Danh mục

Tin tức

Giá cả

eShop

Việc làm

Học tập

Thêm

Farmext

Ảnh hưởng của mật độ nuôi và hàm lượng protein trong thức ăn lên tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá ngạnh sông (Cranoglanis henrici Vaillant, 1893) nuôi trong bể composite

Ảnh hưởng của mật độ nuôi và hàm lượng protein trong thức ăn lên tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của cá ngạnh sông (Cranoglanis henrici Vaillant, 1893) nuôi trong bể composite

Tác giả: Kim Văn Vạn, Đoàn Thị Nhinh, Nguyễn Thị Thúy Hằng Nhóm: Kỹ thuật nuôi Định dạng: pdf Dung lượng: 1.08Mb Ngày đăng: 20/09/2019
Đăng nhập để tải

Vui lòng đăng nhập để xem đường dẫn tải tài liệu.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của mật độ và hàm lượng protein trong thức ăn lên quá trình tăng trưởng, tỷ lệ sống và hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) của cá ngạnh sông (Cranoglanis henrici). Cá nuôi thí nghiệm có kích cỡ trung bình tương ứng 16,79 ± 0,92 g/con và 39,91 ± 0,75 g/con được đưa vào 2 thí nghiệm riêng biệt với 3 ngưỡng mật độ 30, 45 và 60 con/m3 và 3 mức hàm lượng protein thô (CP) trong thức ăn là 30, 35 và 40%. Các thí nghiệm sử dụng hệ thống bể composit dung tích 8m3 với 3 lần lặp, thời gian ương nuôi là 60 ngày. Kết quả cho thấy, giá trị FCR cao hơn có ý nghĩa thống kê đã ghi nhận được trong các lô thí nghiệm với mật độ 60 con/m3 (2,96) so với ở mật độ 45 con/m3 (2,81) và 30 con/m3 (2,68); tuy nhiên các chỉ tiêu tăng trưởng không thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P >0,05), khối lượng cá đạt khoảng 33,04-34,55 g/con khi kết thúc thí nghiệm và tỷ lệ sống đạt trên 88%. Tốc độ tăng trưởng của cá khi ương bằng thức ăn có độ đạm 35% (0,52 g/con/ngày) và 40% (0,53 g/con/ngày) tương đương nhau và cao hơn có ý nghĩa thống kê (P <0,05) so với khi ương bằng thức ăn có độ đạm 30% (0,35 g/con/ngày), tỷ lệ sống đạt trên 94% ở tất cả các lô thí nghiệm. Như vậy, khi nuôi cá ngạnh sông trong bể, có thể thả mật độ trong khoảng 45-60 con/m3 và thức ăn có hàm lượng protein từ 35% đến 40% để đạt được tốc độ tăng trưởng và giá trị FCR tối ưu. 

Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2018, 16(9): 813-819 www.vnua.edu.vn

Tài liệu liên quan