Moina

: common water flea
: Moina sp
: Bo bo, trứng nước
Phân loại
Moina spBaird, 1850
Moina
Đặc điểm

Moina (trứng nước) thuộc bộ Cladocera, là loại giáp xác nhỏ có giá trị dinh dưỡng cao và là thức ăn vô cùng quan trọng cho ấu trùng động vật thủy sản, đặc biệt là giai đoạn vừa hết noãn hoàng.

Họ Daphnia và Moina có quan hệ mật thiết với nhau. Chúng xuất hiện khắp thế giới và được gọi chung là Daphnia. Các giống loài thường nuôi: Daphnia pulex, ­ Moina dubia, ­Daphnia magna, ­Moina macrocopa,­ Moina micrura.


Moina có cấu tạo cơ thể bao gồm phần đầu và phần thân (Hình1). Ăng ten là phương tiện chính của vận động. Đôi mắt hợp chất lớn nằm dưới da ở hai bên đầu. Một trong những đặc điểm chính của loài giáp xác này là phần chính của cơ thể được bao bọc trong một bộ xương bên ngoài (carapace). Định kỳ, chúng lột xác hoặc lột lớp vỏ bên ngoài. Túi đựng trứng, nơi trứng và phôi phát triển, nằm ở phía lưng của con cái. Ở Daphnia, túi này được đóng hoàn toàn, trong khi Moina có một túi mở.


Màu sắc do thức ăn và DO quyết định, DO thấp thì có màu đỏ do lượng Hemoglobin cao. Moina thích ánh sáng trung bình, tập trung lên mặt nước vào lúc sáng sớm hay trong những ngày âm u.

Phân bố

Phân bố chủ yếu ở nước ngọt. 

Phát triển mạnh ở những thủy vực giàu chất hữu cơ đang phân hủy, nước trung tính hoặc hơi Kiềm.

Moina trưởng thành (700–1,000 µm) dài hơn tôm ngâm nước muối mới nở (500 µm) và dài gấp hai đến ba lần chiều dài của luân trùng trưởng thành. Tuy nhiên, Moina cỡ nhỏ (dưới 400 µm) – chưa trưởng thành, có kích thước xấp xỉ hoặc chỉ lớn hơn một chút so với luân trùng trưởng thành và nhỏ hơn tôm giống mới nở. Ngoài ra, tôm nước mặn chết nhanh chóng trong nước ngọt. Do đó, Moina là thức ăn lý tưởng cho cá nước ngọt.

 Loài mới nở của hầu hết các loài cá nước ngọt có thể ăn Moina cỡ nhỏ làm thức ăn ban đầu. Khi ương nuôi trong ao hồ làm thức ăn cho cá, cũng cần xác định tỷ lệ cho ăn hợp lý, bởi Moina có thể nhanh chóng phát triển đạt kích cỡ quá lớn để cá có thể ăn. Hơn nữa, khi Moina lớn hơn, mật độ trở nên quá dày đặc, chuyển động “nhảy” của chúng có khả năng gây hại cho cá con.

Ở Singapore, Moina được nuôi trong ao, được bón phân với phần lớn là phân gà, hoặc ít hơn với phân lợn, chúng được sử dụng làm thức ăn duy nhất cho nhiều loài cá cảnh nhiệt đới, với tỷ lệ sống 95% –99%, chiều dài đến ¾ inch (20 mm). Có rất ít thông tin liên quan đến phương pháp ương nuôi đại trà Moina, và các thông tin có sẵn là trong các tạp chí nước ngoài, hoặc các ấn phẩm khan hiếm khác.

Moina xuất hiện với mật độ cao trong ao, hồ, mương, suối chuyển động chậm và nơi đầm lầy. Chúng đặc biệt phong phú về số lượng trong các vùng nước tạm thời, nơi cung cấp cho chúng các điều kiện thích hợp chỉ trong một thời gian ngắn.

Moina nói chung thích ứng khá tốt với chất lượng nước kém. Chúng có thể sống trong nước nơi có lượng oxy hòa tan thay đổi từ gần như bằng không đến siêu bão hòa. Moina thích ứng được cả với sự thay đổi nồng độ oxy, chúng thường sinh sản với số lượng lớn trong các khu vực nước bị ô nhiễm mạnh với nước thải. 

Khả năng tồn tại trong môi trường nghèo oxy là do khả năng tổng hợp hemoglobin của chúng. Sự hình thành hemoglobin phụ thuộc vào mức độ oxy hòa tan trong nước. Việc sản xuất hemoglobin cũng có thể do nhiệt độ cao và mật độ cá thể cao.

Moina có khả năng chịu nhiệt độ cao và dễ dàng chịu được sự thay đổi hàng ngày từ 5°C – 31°C, nhiệt độ tối ưu của chúng là 24°C – 31°C. 

Tập tính

Ăn lọc không chọn lọc=> có thể giàu hóa dinh dưỡng. Làm giàu Moina có thể được thực hiện bằng cách sử dụng phương pháp trực tiếp, bằng cách nuôi chúng ở môi trường nấm men hay dầu gan mực. 

Thức ăn tảo (lam, lục) vi khuẩn, mùn bã hữu cơ lở lửng. Giá trị dinh dưỡng phụ thuộc vào nguồn thức ăn. Là loài nước ngọt nên chứa rất ít HUFA. 

Giàu đạm (50-70% TLK). Chứa nhiều enzyme tiêu hóa như proteinase, peptidases, amylases, lipase và thậm chí cellulase cần thiết cho cá con.

Sinh sản

 2 hình thức sinh sản (tương tự như luân trùng) – Đơn tính (vô tính): trong điều kiện môi trường thuận lợi – Hứu tính: trong điều kiện không thuận lợi. Con đực moina có kích thước (0,6-0,9 mm) nhỏ hơn con cái (1,0-1,5 mm). Moina có kích thước nhỏ hơn Daphnia , có hàm lượng protein cao hơn, và có giá trị kinh tế tương đương. 

 Vòng đời của Moina

Chu kỳ sinh sản của Moina có cả giai đoạn hữu tính và vô tính. Thông thường, các cá thể cái sinh sản vô tính. Trong điều kiện tối ưu, Moina sinh sản khi được 4–7 ngày tuổi. Hầu hết con cái sản xuất được từ 2-6 con cái trong suốt cuộc đời của chúng.

Trong điều kiện môi trường bất lợi, con đực được sinh sản và việc sinh sản hữu tính xảy ra, dẫn đến việc hình thành trứng nghỉ (ephippia). Các kích thích cho việc chuyển đổi từ sinh sản vô tính sang sinh sản hữu tính là sự giảm đột ngột trong việc cung cấp thức ăn, dẫn đến sự gia tăng sản xuất trứng nghỉ.

Hiện trạng
Đang được khai thác và nuôi ở quy mô công nghiệp để làm thức ăn cho cá giống.
Tài liệu tham khảo

1. http://www.fao.org/docrep/003/w3732e/w3732e0x.htm

2. http://www.marinespecies.org/aphia.php?p=taxdetails&id=148346

Cập nhật ngày 09/07/2018
bởi NIMDA TH
Xem thêm