Bể nuôi lươn không bùn thu hoạch
Nuôi lươn không bùn: Từ đột phá đến bế tắc
Chỉ trong 6 năm, con lươn đồng đi trọn một vòng mà nông sản Việt đã đi nhiều lần: từ "cứu cánh" thoát nghèo, thành phong trào ồ ạt, rồi thành hàng nghìn tấn hàng tồn không ai mua. Câu chuyện của nó không chỉ là chuyện một con vật nuôi, mà là bản thu nhỏ của bài toán lớn nhất ngành nông nghiệp: sản xuất giỏi nhưng không điều tiết được thị trường.
Nghe nhanh bài viết
Tháng 4/2026, ở xã Vị Thủy (Cần Thơ), khoảng 150 hộ đứng bên những bể bạt chứa gần 900 tấn lươn đã quá lứa. Thương lái trả 35.000-40.000 đồng/kg, thấp hơn giá thành 45.000-65.000 đồng/kg. Bán thì lỗ, giữ lại mỗi ngày tốn thêm tiền thức ăn, điện, nước. Chỉ hai năm trước, cũng những bể lươn này từng được báo chí gọi là mô hình "lãi trăm triệu mỗi năm".
Hồi 1: Đột phá giải pháp
Con lươn từng là nghề khó. Giống phải bắt ngoài tự nhiên bằng xung điện, câu hoặc thuốc, nên yếu và trầy xước, tỷ lệ sống chỉ 20-30%. Anh Nguyễn Thành Tân (Long Tuyền, Cần Thơ) mất khoảng 5 năm thua lỗ, từ 2010 đến 2015, mới tìm ra cách nuôi.
Rồi ba đột phá cùng lúc mở cửa cho nghề này:
Giống nhân tạo. Các trại ở Hậu Giang cũ, Vĩnh Long chủ động được lươn bột. Năm 2024, lươn bột chỉ 600 đồng/con, giống cỡ 1.000 con/kg khoảng 1.800 đồng/con.
Nuôi không bùn. Bể bạt, bể xi măng, mật độ 250-500 con/m², không cần nhiều đất, vốn vài chục đến vài trăm triệu đồng là bắt đầu được.
Thức ăn công nghiệp. Lươn được tập ăn viên, bỏ được sự phụ thuộc vào cá tạp, ốc, trùn.
Thị trường cũng mở. Năm 2020, lươn loại 1 bán cho thương lái tới 200.000-220.000 đồng/kg, chủ yếu đi Trung Quốc. Giữa năm 2024 giá vẫn ở 110.000-115.000 đồng/kg, người nuôi lãi 25.000-30.000 đồng mỗi kg. Các trường đại học có đề tài, ngân hàng chính sách cho vay, báo chí đưa gương làm giàu.
Tới đây, mọi thứ đều đúng: kỹ thuật giải quyết được, chi phí giảm, lợi nhuận rõ ràng. Chính sự đúng đắn đó là điểm khởi đầu của vấn đề.
Hồi 2: Vỡ trận sản lượng
Khi một nghề vừa dễ vào vừa có lãi, ai cũng vào. Giai đoạn 2023-2025, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, Cà Mau mở rộng bể nuôi nhanh chóng. Chi cục Thủy sản Cà Mau thừa nhận: dân mở rộng diện tích mà không có quy hoạch. Không ai đếm tổng số bể, không ai biết bao nhiêu triệu con giống đã được thả.
Lươn cần khoảng 10 tháng để đạt cỡ thương phẩm. Vì vậy, tất cả những bể thả trong cơn sốt giá đều đến kỳ thu hoạch cùng một lúc vào đầu năm 2026. Cầu thì không tăng theo: 10 tháng đầu năm 2024, xuất khẩu chỉ khoảng 670 tấn, gần một nửa sang Trung Quốc. Khi thị trường này chậm lại, sản lượng dồn ứ trong nước.
Kết quả là giá sập:
Địa phương | Giá thương lái (4–5/2026) | Lượng tồn ước tính |
|---|---|---|
Cần Thơ | 35.000-40.000 đ/kg | Hơn 1.600 tấn (Chi cục Thủy sản) đến khoảng 4.000 tấn (Hội Nông dân) |
Cà Mau | 38.000-42.000 đ/kg | Hơn 1.000 tấn |
An Giang | 40.000-50.000 đ/kg | Khoảng 400 tấn |
Đồng Tháp | 35.000-45.000₫/kg | Hơn 35 tấn |
Ở An Giang, lươn loại 3-5 con/kg từng bán 115.000-120.000 đồng/kg cùng kỳ năm trước, nay còn chưa tới một nửa. Thời điểm tồi tệ nhất (tháng 7/2026), có nơi thương lái chỉ trả 27.000 đồng/kg.
Đây không phải thiên tai hay dịch bệnh. Sản lượng tăng chính vì nghề nuôi đã thành công.

Hồi 3: Rơi vào bế tắc
Với lúa, nông dân có thể phơi khô cất kho chờ giá. Với lươn thì không. Lươn sống trong bể vẫn phải ăn, phải thay nước, phải chạy sục khí mỗi ngày. Một hộ nuôi 60.000-80.000 con tốn khoảng 2 triệu đồng tiền thức ăn mỗi ngày, và thức ăn lại vừa tăng thêm 60.000 đồng/bao đúng lúc giá lươn sập.
Người nuôi rơi vào thế mà báo chí gọi là "bán thì lỗ nặng, giữ lại càng lỗ hơn":
Giữ lại: lươn vượt cỡ 400-500 g/con, loại mà thương lái không ưa, càng khó bán. Có lươn đã nuôi 12–15 tháng, trong khi chu kỳ bình thường khoảng 10 tháng.
Dồn bể: nhiều hộ ở An Trạch (Cà Mau) dồn lươn vào chung bể với mật độ dày, đẩy nguy cơ dịch bệnh lên.
Vay thêm: có hộ phải vay để xây thêm bể chứa lươn tồn, nợ chồng nợ.
Bán lẻ: vài hộ tự bán ở chợ 50.000-90.000 đồng/kg để cầm cự, nhưng lượng tiêu thụ rất ít.
Những con số thua lỗ rất cụ thể. Anh Nguyễn Minh Hải (Ngọc Chúc, An Giang) bỏ vốn hơn 200 triệu đồng, có thể lỗ gần 150 triệu. Anh Nguyễn Hoàng Lịnh (An Trạch, Cà Mau) đầu tư gần 450 triệu khi giá còn trên 80.000 đồng/kg, nay ôm hơn 5 tấn lươn quá lứa 4 tháng.
"Con này giờ nuôi tốn đất lắm anh em"
"Con này giờ nuôi tốn đất lắm anh em", một người nuôi hơn chục năm kinh nghiệm cho hay. Câu nói nửa đùa nửa thật ấy gói cả một chặng đường: anh đã đi qua thời phải mua giống bắt ngoài đồng, thời lươn bán 200.000 đồng/kg, và giờ là thời nuôi lớn rồi mà không biết bán cho ai.
Với người nuôi lươn, mỗi ngày bắt đầu bằng một phép tính. Gia đình ông Nguyễn Văn Mưa (Ngọc Chúc, An Giang) nuôi gần 60.000 con, mỗi ngày tốn khoảng 2 triệu đồng tiền thức ăn, mỗi bể phải thay nước 4 lần. Nếu bán ở giá hiện tại, cả nhà có thể lỗ gần 200 triệu đồng. Với anh Nguyễn Hoàng Lịnh ở Cà Mau, hơn 5 tấn lươn quá lứa trong bể nghĩa là mỗi ngày con lươn lớn thêm cũng là một ngày tiền lỗ dày thêm.
Điều khiến nhiều người nuôi đau lòng hơn cả là giá lươn tại ao rất thấp, nhưng ngoài chợ vẫn cao. Tháng 7/2026, Báo Cần Thơ ghi nhận có nơi thương lái chỉ trả 27.000-40.000 đồng/kg tại ao, trong khi giá bán lẻ ở chợ vẫn 45.000-60.000 đồng/kg.
Có thể bạn quan tâm
Người tiêu dùng không thấy lươn rẻ đi bao nhiêu, còn người làm ra con lươn thì không giữ được đồng lời nào. Khoảng chênh ấy nằm ở các khâu vận chuyển, hao hụt và trung gian, những khâu mà người nuôi không có tiếng nói.
Họ không đòi được "giải cứu" mãi. Điều họ cần là biết nên nuôi bao nhiêu, bán cho ai, và được trả một cái giá công bằng cho những tháng ngày thức khuya canh nước.
Chính quyền phản ứng theo cách quen thuộc: "giải cứu". Hội Nông dân Cà Mau ra công văn kêu gọi các sở ngành mua giúp. Hội Nông dân Cần Thơ kết nối một cơ sở ở Cờ Đỏ thu 15-20 tấn/ngày. Những nỗ lực này giảm được đau, nhưng không chữa được bệnh. Cuối tháng 7/2026, giá nhích lên 50.000-60.000 đồng/kg, đủ cho một khoản lãi mỏng 5.000-15.000 đồng/kg, và câu hỏi lớn hơn bắt đầu: vụ tới có nên thả nữa không?
Góc nhìn kinh tế: Vì sao thành công lại dẫn tới bế tắc
Cuộc khủng hoảng con lươn có thể dự đoán được từ trước bằng bốn cơ chế kinh tế học kinh điển.
1. Mô hình mạng nhện (Cobweb). Người nuôi quyết định thả giống theo giá hôm nay, nhưng 10 tháng sau mới có hàng bán. Giá cao kéo mọi người cùng thả, tất cả cùng thu hoạch, giá sập. Giá sập khiến nhiều người bỏ nghề, nguồn cung giảm, giá lại lên, và vòng lặp bắt đầu lại.
2. Cầu kém co giãn. Lươn không phải món ăn hằng ngày, thị trường xuất khẩu chỉ vài trăm tấn mỗi năm. Khi cầu không co giãn, cung chỉ cần tăng một phần nhỏ là giá phải giảm rất sâu mới bán hết. Đó là nghịch lý "được mùa mất giá": sản lượng của cả ngành tăng, tổng doanh thu lại giảm.
3. Thất bại phối hợp. Với từng hộ, mở rộng bể khi giá cao là quyết định hợp lý. Khi tất cả cùng làm, cả ngành cùng thua. Không có ai, kể cả nhà nước, nắm số liệu tổng cung để phát cảnh báo.
4. Độc quyền nhóm người mua. Phía bán có hàng nghìn hộ nhỏ, phía mua chỉ có một nhóm thương lái. Hàng sống không chờ được, người mua nắm thông tin thị trường, nên quyền định giá nằm hết ở phía mua.

Không chỉ con lươn: một kịch bản lặp lại
Đổi con lươn thành một nông sản khác, kịch bản gần như giữ nguyên. Cơn bão giá heo hơi năm 2017, những đợt "giải cứu" dưa hấu, thanh long ùn ứ ở cửa khẩu phía Bắc, các làn sóng chặt cây này trồng cây kia ở miền Tây đều đi qua ba hồi giống nhau: một lợi thế mới (giống, kỹ thuật, thị trường) tạo lợi nhuận cao, nông dân đổ xô sản xuất, rồi cung vượt cầu và giá sụp.
Điểm chung của chúng:
Năng lực sản xuất đi trước năng lực tiêu thụ. Khuyến nông, viện trường, ngân hàng giúp nông dân làm ra nhiều hơn, nhưng gần như không ai lo việc ai sẽ mua.
Không có số liệu tổng cung theo thời gian thực. Nhà nước biết giá khi giá đã sập, không biết diện tích, số con khi nó đang phình ra.
Phụ thuộc vào một thị trường, một kênh mua. Thường là Trung Quốc, qua thương lái, ở dạng tươi sống chưa chế biến.
Phản ứng chính sách đi sau. Công cụ chính là "giải cứu", tức là chữa cháy sau khi đã cháy.
Con lươn là ca đặc biệt rõ vì chu kỳ ngắn, vào nghề rẻ và không lưu kho được. Nó cho thấy một mô hình đầy đủ trong vòng chưa tới ba năm.
Lối ra: chữa đúng từng chỗ hỏng
Mỗi cơ chế gây khủng hoảng cần một liều thuốc riêng. "Giải cứu" không thay được cái nào trong số đó.
Chỗ hỏng | Giải pháp | Ai làm |
|---|---|---|
Mạng nhện, thiếu thông tin | Đăng ký hộ nuôi. Theo dõi lượng giống bán ra mỗi tháng như chỉ báo sớm cho sản lượng 10 tháng sau. Phát cảnh báo khi giống thả tăng đột biến. | Sở Nông nghiệp, Chi cục Thủy sản, trại giống |
Cầu kém co giãn | Chế biến (đông lạnh, sơ chế, khô) để có kho đệm. Mở thị trường Hàn Quốc, Nhật Bản. Đẩy tiêu dùng nội địa. | Doanh nghiệp, Bộ Công Thương |
Độc quyền người mua | Gom hộ vào hợp tác xã để bán chung. Công khai giá hằng ngày. Kéo thêm người mua vào cạnh tranh. | Hội Nông dân, hợp tác xã |
Rủi ro giá | Hợp đồng bao tiêu có giá sàn, ký trước khi thả giống. | Doanh nghiệp và nông dân |
Rào cản chất lượng | VietGAP, hướng dẫn thú y chính thức về thuốc được dùng, truy xuất nguồn gốc. | Ngành thú y, khuyến nông |
Nợ khi giá sập | Giãn nợ cho hộ bị ảnh hưởng năm 2026. Cho vay mới gắn với hợp đồng tiêu thụ. | Ngân hàng |
Với người nuôi, có ba nguyên tắc tự vệ:
Đi ngược chu kỳ. Giảm nuôi khi ai cũng đổ xô vào; cân nhắc thả khi nhiều người bỏ nghề.
Bán đúng cỡ, không neo hàng. Chỉ giữ khi mức tăng giá kỳ vọng lớn hơn chi phí giữ mỗi ngày.
Không thả vụ mới khi chưa có đầu ra. Giá dự kiến phải vượt tổng giá thành, kể cả công và khấu hao bể.
Nông dân miền Tây không thất bại vì thiếu kỹ thuật. Họ thất bại vì làm quá giỏi trong một hệ thống không ai điều tiết cung. Mỗi đột phá sản xuất mà không đi kèm thông tin thị trường, liên kết tiêu thụ và kho đệm chế biến thì chỉ đẩy nhanh vòng quay tới khủng hoảng kế tiếp.
Đằng sau mỗi con số tồn kho là một gia đình thức khuya canh máy sục khí, một khoản vay chưa biết trả bằng gì, một người đã dồn cả vốn liếng vào một con vật nhỏ. Họ đã làm đúng những gì được khuyến khích. Cái họ thiếu không phải sự chăm chỉ, mà là một hệ thống đứng cùng họ khi thị trường quay lưng.
Giá lươn đang nhích lên. Nếu không có gì thay đổi, đó chính là tín hiệu cho một đợt thả giống ồ ạt mới, và câu chuyện này sẽ được viết lại vào khoảng 2027-2028, với một con lươn khác hoặc một nông sản khác.
Bài viết liên quan
Cá bảo ngọc (ngọc đế): Hành trình từ hố nước sa mạc Úc đến ao nuôi Việt Nam
Từ những hố nước cô lập giữa vùng nội địa khô hạn nước Úc, cá bảo ngọc (Scortum barcoo) đã được thuần dưỡng từ năm 1988, lan sang Trung Quốc...
14/10/2026
Trả lời câu hỏi của sinh viên thủy sản về thương hiệu
Trong buổi giao lưu với các bạn tân sinh viên Trường Thủy sản, Đại học Cần Thơ, tôi có chi...
13/10/2026
Gần 20 năm kiên trì đưa vaccine vào ngành cá tra Việt Nam
Gần 20 năm trước, khi người nuôi cá tra Đồng bằng sông Cửu Long vẫn chủ yếu sử dụng kháng...
12/10/2026
Càng có vấn đề, càng có nhiều người khuyên
Khi ao tôm đang bình thường, mọi thứ khá yên ắng. Nhưng chỉ cần tôm giảm ăn, nước đổi màu,...
04/10/2026 · 1,205 lượt xem