Danh mục

Tin tức

Giá cả

eShop

Việc làm

Học tập

Thêm

Farmext

Ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của Tôm chân trắng SPF nuôi thương phẩm trong bể composit trong nhà (Litopenaeus vannamei)

Ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của Tôm chân trắng SPF nuôi thương phẩm trong bể composit trong nhà (Litopenaeus vannamei)

Tác giả: Nguyễn Phương Toàn và ctv, 2013 Nhóm: Sinh lý Định dạng: pdf Dung lượng: 0.61Mb Ngày đăng: 01/11/2013
Đăng nhập để tải

Vui lòng đăng nhập để xem đường dẫn tải tài liệu.

Thí nghiệm được bố trí ở ba mật độ khác nhau: 40, 60 và 80 PL15/m2  trong bể composit 4m2  trong nhà đối với tôm  chân  trắng  (Litopenaeus  vannamei)  sạch  bệnh  (SPF)  giai  đoạn  nuôi  thương  phẩm  trong  thời  gian  75  ngày. Nhiệt độ dao động  từ 28  - 31ºC,  độ mặn  từ 20-24‰, nuôi  trong điều kiện đảm bảo an  toàn sinh  học. Thí nghiệm được lặp  lại 3  lần, sử dụng thức ăn CP có hàm lượng đạm 38%, cho ăn ngày 4  lần, khẩu phần ăn hàng ngày 10-15% khối lượng thân tùy theo khả năng tiêu thụ thức ăn thực tế của tôm, thay nước định kỳ 50%/tuần. Kết quả tăng trưởng về khối lượng ở mật độ 40 con/m2  đạt cao nhất (1,54 g/tuần), tiếp đến là mật độ 60 con/m2 (1,47 g/tuần) và thấp nhất ở mật độ 80 con/m2  (1,16 g/tuần). Tương tự như trên, tỷ lệ sống cao nhất ở lô 40 con/m2  (79,7 ± 2,6%) và thấp nhất ở  lô 80 con/m2 (70,3 ± 3,3%; P<0,05) nhưng không có sự sai khác đáng kể giữa hai mật độ 40 con/m2 (79,7 ± 2,6%) và 60 con/m2  (78,7 ± 2,9%; P>0,05). Hệ số phân đàn của tôm nuôi ở mật độ 40 con/m2  (7,27 ± 1,52%) và 60 con/m2  (8,22 ± 2,5%) thấp hơn đáng kể so với lô mật độ 80 con/m2  (12,9 ± 2,7%; P<0,05). Tuy nhiên, không có sự khác nhau đáng kể về hệ số thức ăn (FCR) ở 3 mật độ thí nghiệm (P>0,05). Các mẫu tôm phân tích đều âm tính với mầm bệnh đốm trắng (WSSV), bệnh đầu vàng (YHV), Taura  (TSV), bệnh còi (MBV), bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và tế bào biểu mô (IHHNV). 

Tài liệu liên quan