Đặc điểm sinh học và sinh thái của Tôm Càng xanh

Tôm càng xanh (Macrobranchium rosenbergii de Man, 1879) tôm Càng xanh phân bố ở tất cả các thủy vực nước ngọt và kể cả ở vùng nước lợ cửa sông.

Tôm càng xanh
Tôm càng xanh. Ảnh: Wikipedia

Vị trí phân loại

Lớp giáp xác: Crustacea

Bộ mười chân: Decapoda

Họ: Palaemonidae

Giống: Macrobrachium

Loài M. rosenbergii de Man 1879- Tôm Càng xanh (Tên tiếng Anh: Giant prawn)

Phân bố  

Tôm Càng nước ngọt phân bố khắp các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới trên thế giới. Hiện nay được biết có trên 100 loài, trong đó hơn một phần tư số này có ở châu Mỹ.

Chúng có mặt ở hầu hết các vùng nước ngọt nội địa như sông, hồ, đầm lầy, mương ao cũng như các vùng cửa sông. Hầu hết các loài đều cần có nước lợ cho các giai đoạn biến thái của ấu trùng. Một số loài thích nghi môi trường nước trong, một số loài khác gặp trong điều kiện nước rất đục như Tôm Càng xanh M. rosenbergii.

Hình thái của Tôm Càng xanh được nhiều tác giả mô tả như Holthius; Đức và ctv. (1988 và 1989); Forster và Wickins 1972. Tuy nhiên, ở nước ta trong ao nuôi hay trong khai thác tự nhiên thì xuất hiện 2 dạng tôm càng mà được gọi là tôm càng xanh và tôm càng lửa.

Tôm Càng xanh phân bố ở tất cả các thủy vực nước ngọt (đầm, ao, sông, rạch, ruộng lúa...) và kể cả ở vùng nướcc lợ cửa sông. Trên thế giới tôm phân bố ở khu hệ ấn Độ Dương và Tây Nam Thái Bình Dương. ở Việt nam, tôm càng xanh phân bố chủ yếu các tỉnh Nam bộ đặc biệt là các vùng nước ngọt và vùng cửa sông ven biển ở Đồng Bằng Sông Cửu Long.

Tôm càng xanhTôm Càng xanh phân bố ở tất cả các thủy vực nước ngọt đầm, ao, sông, rạch,... Ảnh: Wikipedia

Đời sống và sinh sản của Tôm Càng xanh  

Tôm càng xanh có trọng lượng khá lớn, con đực có thể đạt tới 450g/con. Thân tương đối tròn, con trưởng thành có màu xanh dương đậm. Chuỷ phát triển nhọn, 1/2 chuỷ ngoài cong lên, trên mắt chuỷ có 11-15 răng, 3-4 răng sau hốc mắt, mắt dưới thường 12-15 răng. Chiều dài chuỷ của tôm cái khi trưởng thành thường bằng hoặc ngắn hơn vỏ đầu ngực, còn chuỷ tôm đực dài hơn chiều dài vỏ đầu ngực.  

Chân ngực thứ hai luôn luôn phát triển hơn các chân khác, nhất là ở tôm đực trưởng thành, đôi chân ngực thứ 2 có hình dạng và kích thước giống nhau.  

Khi chiều dài bình quân 8-14cm, trọng lượng cơ thể từ 10-20g, Tôm Càng xanh có sự phát triển tương đương giữa con đực và con cái. Khi chiều dài vượt quá 14cm, con đực thường phát triển nhanh hơn con cái.  

Trong quá trình nuôi, thả nuôi trực tiếp tôm bột (postlarvea) sau 7 tháng nuôi, cá thể đực lớn nhất đạt 110g, cá thể cái lớn nhất chỉ đạt 50g.

Vòng đời của Tôm Càng xanh có 5 giai đoạn chủ yếu

Trứng - ấu trùng - Tôm bột (postlarvae) - Tôm giống (juvenile) - Tôm trưởng thành (adult).  

Mỗi một giai đoạn, đòi hỏi môi trường và điều kiện sống khác nhau.

Khi con cái và con đực trưởng thành, ở con cái có trứng chín thì xảy ra hiện tượng lột xác, con đực và con cái tiến hành giao vỹ rồi ấp trứng. Khi tôm đang ấp trứng, buồng trứng vẫn phát triển, phóng thích ấu trùng ở bụng xong, sau 2-5 ngày lại lột xác, giao vỹ và đẻ tiếp.

Theo Ling (1969), ấu trùng trải qua 8 giai đoạn, nhưng theo Uno và Soo (1969), thì ấu trùng trải qua 11 lần lột xác tương ứng với 11 giai đoạn biến thái khác nhau trước khi biến thái qua hậu ấu trùng (postlarvae). Mỗi giai đoạn có hình thái và kích thước khác nhau. Giai đoạn 1 dài khoảng 2mm, giai đoạn 11 dài khoảng 7mm.

Giai đoạn hậu ấu trùng có hình dạng giống như tôm trưởng thành nhỏ, di chuyển chủ yếu bằng cách bò nhiều hơn là bơi lội tự do. Khi chúng bơi thường theo kiểu mặt lưng ở phía trên và tiến về phía trước. Chúng có thể lẩn tránh nhanh nhẹn bằng cách co các cơ bụng lại. Các hậu ấu trùng có khả năng chịu được sự dao động lớn của nồng độ muối.

Tôm Càng xanh sinh sản gần như quanh năm. Tuy nhiên, ở những khu vực khác nhau thì các tháng đẻ rộ không trùng nhau. tại Việt Nam, theo Nguyễn Việt Thắng (1993) và Phạm Văn Tình (1996) mùa đẻ rộ nhất  của Tôm Càng xanh ở Đồng Bằng Nam Bộ tập trung vào hai thời điểm từ tháng 4 đến tháng 6 và từ tháng 8 đến tháng 10.

Tôm Càng xanh trưởng thành ở nước ngọt, thành thục phát dục, giao vĩ và đẻ trứng ở đó, nhưng khi ôm trứng và ấp trứng chúng có xu thế bơi ra vùng nước lợ từ 6-18%.

Vòng đời của Tôm Càng xanh có có 4 giai đoạn rõ ràng là trứng, ấu trùng, hậu ấu trùng và tôm trưởng thành. Tôm trưởng thành sống ở vùng nước ngọt, thành thục và giao vỹ trong nước ngọt, nhưng sau đó chúng di cư ra vùng nước lợ (có độ mặn 6-18%) và ấu trùng nở ra, sống phù du trong nưóc lợ. Khi hoàn thành 11 lần lột xác để thành tôm con thì tôm di chuyển dần vào trong vùng nước ngọt.

Tập tính ăn 

Tôm Càng xanh là loài ăn tạp nghiêng về động vật, thức ăn tự nhiên của chúng là các loại nguyên sinh động vật, giun nhiều tơ, giáp xác, côn trùng, nhuyễn thể, các mảnh cá vụn, các loài tảo, mùn bã hữu cơ và cát mịn.

Tôm càng xanhTôm Càng xanh sinh sản gần như quanh năm. Ảnh: guatemala.inaturalist.org

Tôm Càng xanh xác định thức ăn bằng mùi và màu sắc.

Tôm tìm thức ăn bằng cơ quan xúc giác (râu), khi tìm được thức ăn, chúng dùng chân ngực thứ nhất kẹp gắp thức ăn đưa vào miệng.

Trong thời gian ấp trứng tôm có thể nhịn ăn vài ba ngày.   

Hình dạng và mùi vị thức ăn đóng vai trò quan trọng trong việc hướng tôm đến bắt mồi. Điều này rất quan trọng trong việc chế biến thức ăn cho tôm.  

Tôm thường bắt mồi nhiều vào chiều tối và sáng sớm, tôm thường bò trên mặt đáy ao, dùng càng nhỏ đưa mồi vào miệng. Đặc tính của tôm càng xanh nếu không đủ thức ăn, chúng hay ăn thịt lẫn nhau khi lột xác, đây là đặc tính của loài. Khi nuôi tôm thương phẩm phải lưu ý đến hiện tượng này và dùng các biện pháp kỹ thuật để hạn chế sự ăn thịt lẫn nhau của tôm.

Tôm Càng xanh trưởng thành là loài ăn tầng đáy, nó sử dụng nhiều loại động vật khác nhau để làm thức ăn từ nhuyễn thể, giáp xác đến to sợi và kể c chất thối rữa hữu cơ, và tôm cũng ăn thức ăn viên công nghiệp. Tôm tìm thức ăn bằng cơ quan xúc giác, chúng dùng râu quét ngang, dọc phía trước hưóng di chuyển. Khi tìm gặp thức ăn chúng dùng chân ngực thứ nhất kẹp lấy thức ăn, đưa chân hàm và từ từ đưa vào miệng. Tôm có hàm trên và hàm dưới cấu tạo bằng chất kitin nên nghiền được các loại thức ăn cứng như nhuyễn thể...

Trong quá trình tìm thức ăn tôm có tính tranh giành cao, cá thể nhỏ thường tránh xa đàn hay khi tìm được một miếng thức ăn thì di chuyển đi nơi khác, trong khi đó con lớn vẫn chiếm chỗ và đánh đuổi tôm nhỏ. Ngoài ra, tôm còn ăn đồng loại khi chúng yếu (ví dụ như mới lột) hay khi thiếu thức ăn.  

Lột xác  

Giống như các loài giáp xác khác, sinh trưởng của Tôm Càng xanh không liên tục, có sự gia tăng kích thước nhanh sau mỗi lần lột xác. Tốc độ sinh trưởng của tôm đực và cái gần như tương đương nhau cho tới khi chúng đạt kích cở 3550g, sau đó khác nhau rõ theo giới tính, tôm đực sinh trưởng nhanh hơn tôm cái và đạt trọng lượng có thể gấp đôi tôm cái trong cùng một thời gian nuôi. Tôm cái khi bắt đầu thành thục (khoảng 40g, hay 140-150cm chiều dài) thì sinh trưởng giảm vì nguồn dinh dưỡng chủ yếu tập trung cho sự phát triển của buồng trứng.  

Một hiện tượng thường thấy trong nuôi Tôm Càng xanh là sự phân đàn khá rõ kể cả trong cùng một nhóm giới tính. Kích thưóc của tôm có thể đạt 40-50 g trong thời gian 4-5 tháng nuôi. Kích cở tôm lớn nhất tìm thấy ở Ấn Độ là 470 g, Thái Lan 470 g và Việt Nam 434 g. 

Để sinh trưởng, cũng như các loài giáp xác khác, Tôm Càng xanh đều phải lột vỏ theo chu kỳ của nó, quá trình này được gọi là sự lột xác và tiếp theo sau đó là sự gia tăng đột ngột về kích thước và trọng lượng.   

Chu kỳ lột xác của tôm tùy thuộc vào giai đoạn sinh trưởng, tình trạng sinh lý, điều kiện dinh dưỡng, điều kiện môi trường,.... Tôm Càng xanh tuân theo qui luật chung của tôm là tôm nhỏ chu kỳ lột xác ngắn hơn tôm lớn. Chu kỳ lột xác của tôm trình bày trong bảng 1.

Bảng 1: Thời gian lột xác của tôm càng xanh.

Khối lượng (g/con) 
Chu kỳ lột xác (ngày) 
2-5

6-10

11-15

16-20

21-25

26-35

36-60

9

13

17

18

20

22

22-24

Môi trường sống  

Nhiệt độ: tôm càng xanh là loài thích nghi với biên độ nhiêt độ rộng từ 18-340C, nhiệt độ tốt nhất là 26-310C, ngoài phạm vi nhiệt độ naữy tôm sẽ sinh trưởng chậm hay khó lột xác.  

pH: mức pH thích hợp nhất cho Tôm Càng xanh là 6.5-8.5, ngoài khoảng này tôm có thể sống được nhưng sinh trưởng kém, pH dưới 5 tôm hoạt động yếu và chết sau 6 giờ. Khi gặp môi trường có pH thấp tôm sẽ nổi đầu, dạt vào bờ, mang đổi màu, mang và các phần phụ bị ăn mòn chuyển màu nâu đen, tôm bơi lội chậm chạp và chết sau đó.  

Oxy hòa tan: môi trường phải có oxy hòa tan > 3 mg/l, dưới mức nầy tôm hoạt động yếu, tập trung ven bờ, nổi đầu và chết sau vài giờ. Nếu hàm lượng oxy vượt quá mức bảo hòa cũng gây tác hại đến tôm nhất là quá trình hô hấp (chứa nhiều khí trong hệ tuần hoàn, cản trở lưu thông máu).  

Ánh sáng: vừa phi, cường độ thích hợp nhất là 400 lux. Ánh sáng cao sẽ ức chế hoạt động của tôm, do vậy ban ngày có ánh sáng cao tôm xuống đáy thủy vực trú ẩn, ban đêm hoạt động tìm mồi tích cực. Tôm không ưa ánh sáng có cường độ cao nhưng lại có tính hướng quang vào ban đêm, khi có luồng sáng thì tôm sẽ tập trung lại, và tôm lớn có tính hướng quang kém hơn tôm nhỏ.  

Nồng độ muối: Tôm thích hợp nồng độ muối từ 0-16%, tôm trưỏng thành sinh trưởng tốt ở vùng cửa sông ven biển.

Đăng ngày 14/04/2023
Bùi Quang Tề @bui-quang-te
Nuôi trồng

FLOCponics: Sự tích hợp hoàn hảo của công nghệ biofloc và cây thủy canh

FLOCponics là một loại Aquaponics thay thế tích hợp công nghệ biofloc (BFT) với sản xuất cây trồng không sử dụng đất.

flocponics
• 15:51 07/03/2022

Mô hình nuôi ba ba lãi 300 triệu đồng/năm

Mô hình nuôi ba ba của ông Lương Thành Kỷ, ở thị trấn Búng Tàu, huyện Phụng Hiệp. Qua 14 năm phát triển, đến nay đàn ba ba sinh sản của ông Kỷ đã phát triển hơn 1.500 con, mỗi năm xuất bán ra thị trường từ 8.000-10.000 con giống, trừ hết các khoản chi phí, lợi nhuận gần 300 triệu đồng/năm.

Ba ba.
• 09:38 14/06/2021

Kinh tế ổn định nhờ nuôi ba ba sinh sản

Hơn 20 năm nuôi ba ba sinh sản, anh Nguyễn Đức Lợi, ấp Phước Thọ B, xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng có cuộc sống khấm khá. Gắn bó lâu năm với con ba ba một phần cũng vì sự yêu thích loài vật này, ba ba lại dễ nuôi, nhẹ công chăm sóc, thị trường tiêu thụ tốt, đem lại nguồn thu nhập ổn định cho gia đình anh.

• 15:40 03/03/2021

Thu trăm triệu đồng mỗi năm từ nuôi ba ba

Nuôi ba ba gai là một công việc đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn và kỹ thuật cao. Nhưng bằng ý chí, nghị lực, sự đam mê tận tụy với công việc cùng với áp dụng các kiến thức khoa học kỹ thuật mà ông Phạm Tất Đạt ở xã Yên Bình, thành phố Tam Điệp đã thành công, vươn lên trở thành triệu phú.

kỹ thuật sản xuất giống baba
• 10:00 30/05/2017

Nuôi tôm khỏe mạnh chỉ từ loại lá quen thuộc trong vườn nhà

Không chỉ là loại cây ăn quả quen thuộc, lá ổi từ lâu đã được biết đến như một vị thuốc dân gian trị bệnh đường ruột.

Lá ổi
• 09:00 21/01/2026

Thay đổi tư duy nuôi tôm để phát triển bền vững

Từ chỗ phó mặc cho thời tiết với cách nuôi truyền thống, người dân xã An Lương (Gia Lai) đang mạnh dạn chuyển đổi sang mô hình thâm canh công nghệ cao.

Ao tôm
• 11:52 20/01/2026

Ảnh hưởng từ sự dao động pH tưởng chừng vô hại đến gan tụy tôm

Gan tụy tôm không tổn thương đột ngột mà suy yếu dần theo những biến động môi trường rất nhỏ. Trong đó, sự dao động pH tuy không lớn nhưng lại kéo dài chính là yếu tố thường bị người nuôi bỏ qua, tạo tiền đề cho những đợt bùng phát dịch bệnh khó kiểm soát.

Gan tụy tôm thẻ
• 09:00 20/01/2026

Xử lý mùn bã hữu cơ đáy ao trong nuôi tôm giữa vụ

Trong giai đoạn giữa vụ nuôi tôm thâm canh, mùn bã hữu cơ tích tụ dưới đáy ao là nguyên nhân chính gây suy giảm oxy, phát sinh khí độc và làm tăng nguy cơ dịch bệnh. Nhận diện sớm và xử lý đúng kỹ thuật lớp mùn bã hữu cơ giúp ổn định môi trường nước và duy trì tốc độ tăng trưởng của đàn tôm.

Nước ao tôm
• 11:48 19/01/2026

Ảnh hưởng từ sự dao động pH tưởng chừng vô hại đến gan tụy tôm

Gan tụy tôm không tổn thương đột ngột mà suy yếu dần theo những biến động môi trường rất nhỏ. Trong đó, sự dao động pH tuy không lớn nhưng lại kéo dài chính là yếu tố thường bị người nuôi bỏ qua, tạo tiền đề cho những đợt bùng phát dịch bệnh khó kiểm soát.

Gan tụy tôm thẻ
• 07:59 21/01/2026

Công nghệ nuôi cá trên cạn

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp và nguồn lợi thủy sản tự nhiên đang chạm ngưỡng giới hạn, áp lực lên các dòng sông và vùng biển ngày càng lớn.

Nuôi cá
• 07:59 21/01/2026

Xử lý mùn bã hữu cơ đáy ao trong nuôi tôm giữa vụ

Trong giai đoạn giữa vụ nuôi tôm thâm canh, mùn bã hữu cơ tích tụ dưới đáy ao là nguyên nhân chính gây suy giảm oxy, phát sinh khí độc và làm tăng nguy cơ dịch bệnh. Nhận diện sớm và xử lý đúng kỹ thuật lớp mùn bã hữu cơ giúp ổn định môi trường nước và duy trì tốc độ tăng trưởng của đàn tôm.

Nước ao tôm
• 07:59 21/01/2026

Cuộc đổi ngôi ngoạn mục của các thị trường xuất khẩu thủy sản năm 2025

Khép lại năm 2025, xuất khẩu thủy sản Việt Nam đã ghi nhận con số ấn tượng 11,3 tỷ USD, tăng 12,4% so với năm trước. Thành quả này có được nhờ cuộc bứt tốc mạnh mẽ trong quý IV và sự linh hoạt chiến lược của các doanh nghiệp đầu ngành trước những biến động khó lường của thị trường quốc tế.

Tôm thẻ
• 07:59 21/01/2026

"Quái ngư" miền Trung hình thù kỳ dị, giá tiền triệu vẫn được săn lùng

Sở hữu ngoại hình vuông vức như một chiếc hộp và lớp da cứng như áo giáp, cá bò hòm thường khiến nhiều người lần đầu nhìn thấy phải giật mình. Thế nhưng, trái ngược với vẻ ngoài đáng sợ, loài cá này lại được ví như "gà nước mặn" với hương vị thơm ngon thượng hạng, được giới sành ăn săn lùng dù giá lên tới cả triệu đồng.

Cá bò hòm
• 07:59 21/01/2026
Some text some message..