Doanh nghiệp thủy sản tìm mô hình tăng trưởng
Cách đây khoảng 15 năm, ngành thủy sản đem đến lợi nhuận khả quan cho nhiều doanh nghiệp, nên các doanh nghiệp cứ đua nhau mọc lên như nấm sau mưa. Nhưng khoảng 5 năm trở lại đây, số doanh nghiệp thủy sản phải đóng cửa, nhờ “giải cứu” ngày càng nhiều. Một số bắt đầu tìm kiếm hướng tăng trưởng mới.
Giảm lợi nhuận
Nếu nhìn vào những báo cáo tài chính nửa đầu năm nay của các công ty thủy sản sẽ thấy đa số có doanh thu và lợi nhuận giảm so với cùng kỳ.
Một trong những đại gia trong ngành là Công ty cổ phần tập đoàn Thủy sản Minh Phú ở Cà Mau có lợi nhuận trước thuế âm gần 23 tỉ đồng, trong khi cùng kỳ năm 2014 là hơn 509 tỉ đồng.
Một công ty khác là Công ty cổ phần Thực phẩm Sao Ta (Fimex VN), ở Sóc Trăng. Công ty này trong tình cảnh “mua nhiều bán ít” khi số liệu tám tháng cho thấy lượng nguyên liệu chế biến là 7.547 tấn, bằng 110% so với cùng kỳ năm 2014, còn doanh thu bán hàng chỉ bằng 95% so với cùng kỳ, chưa đến 84 triệu đô la Mỹ.
Theo ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), một trong những lý do khiến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam giảm mạnh là do tỷ giá. Các nước có cùng mặt hàng xuất khẩu thủy sản với Việt Nam đã giảm giá đồng tiền của họ so với đồng đô la Mỹ để thúc đẩy xuất khẩu, Việt Nam tuy có giảm giá tiền đồng nhưng mức giảm ít hơn. Chính vì thế, thủy sản Việt Nam bị cạnh tranh khốc liệt về giá bán ở những thị trường truyền thống. Do giá tôm nguyên liệu rẻ hơn nên giá tôm xuất khẩu của các nước như Ấn Độ thấp hơn của Việt Nam khoảng 2 đô la Mỹ/ki lô gam. Sự chênh lệch này đủ để những nhà nhập khẩu “thay đổi” bạn hàng chỉ trong vài ngày đàm phán.
Bên cạnh đó, một điều cần phải nhìn nhận là lâu nay, thủy sản Việt Nam xuất khẩu dưới dạng phi lê đối với cá tra; tôm đông lạnh cắt bỏ đầu, mà thiếu những sản phẩm giá trị gia tăng. Do đó, khi thị trường khó khăn, sản phẩm thủy sản của Việt Nam cũng khó bán. Số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) cho thấy trong chín tháng đầu năm nay, diện tích và sản lượng nuôi tôm đang giảm. Cụ thể, diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng ước đạt 76.300 héc ta, sản lượng thu hoạch là 218.000 tấn, giảm hơn 9% về diện tích và hơn 8% về sản lượng so với cùng kỳ.
Đa dạng hóa hoạt động
Trong công văn gửi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước giải trình về kết quả kinh doanh hợp nhất quí 2-2015 của Công ty cổ phần Hùng Vương (công ty theo đuổi mô hình đầu tư - sản xuất theo quy trình khép kín), ông Dương Ngọc Minh, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc, cho biết lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ giảm mạnh do công ty đầu tư nâng cấp, mở rộng và xây mới thêm nhiều dự án, dẫn đến chi phí đầu tư tăng. Điều này dẫn đến hệ quả, lãi vay quí 2-2015 tăng thêm 43% so với quí 2-2014.
Trong khi đó, Fimex VN lại tìm thấy cơ hội ở ngoài ngành thay vì tập trung vào một chu trình kinh doanh khép kín như các đại gia trong ngành. Vì thế, Fimex VN đã có thông báo chính thức mở rộng ngành nghề đăng ký kinh doanh, theo đó, ngoài những ngành nghề sản xuất, kinh doanh chủ lực trước đây như nuôi trồng, chế biến thủy sản, giờ có thêm kinh doanh bất động sản, nhà hàng, khách sạn, buôn bán đồ uống, trồng cây lấy củ có chất bột, trồng rau, đậu các loại, trồng hoa, cây cảnh; nhập khẩu máy móc, thiết bị, vật tư phục vụ ngành chế biến. Có thể đây cũng là một cách giúp công ty gia tăng mức tăng trưởng thay vì chỉ bám trụ với con tôm, con cá.
Quay lại thị trường nội địa
Trong mấy trăm doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản hiện nay, ngoài một số ít như Công ty Hùng Vương, Công ty Minh Phú đầu tư quy trình khép kín hay Fimex VN đầu tư đa ngành, phần lớn vẫn bám trụ vào xuất khẩu thủy sản sơ chế. Gần đây, trong tình hình thị trường xuất khẩu khó khăn, nhiều doanh nghiệp bắt đầu nhớ đến thị trường nội địa từ lâu đã bị lãng quên.
Theo bà Lê Thị Thanh Lâm, Tổng giám đốc Công ty TNHH Thương mại Sài Gòn Food, một kết quả khảo sát các hệ thống siêu thị lớn trên địa bàn TPHCM của công ty này trong năm 2015 cho thấy 85% người được hỏi sử dụng thực phẩm tinh chế, chỉ 15% sử dụng sản phẩm ở dạng sơ chế. Các mặt hàng thủy sản tinh chế ở siêu thị được người tiêu dùng lựa chọn như thủy sản tẩm bột, thủy sản viên, thủy sản chế biến dùng nấu lẩu, các loại bánh hấp.
Trên bình diện quốc gia, theo số liệu của Cục Chế biến nông lâm thủy sản và Nghề muối, tốc độ tăng lượng thủy sản tiêu thụ nội địa hàng năm vào khoảng 5,5%. Trong năm 2014, lượng thủy sản tiêu thụ nội địa là hơn 478.000 tấn, trong đó, thủy sản đông lạnh chiếm tỷ lệ lớn nhất, gần 37,5%, tiếp đến là các loại thủy sản khô như mực khô, tôm khô, cá khô và đồ hộp thủy sản
Tuy nhiên, theo dự báo của Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam thì mức tiêu thụ thủy sản trong nước năm 2015 có thể đạt tới 790.000 tấn và sẽ tăng lên đến 940.000 tấn vào năm 2020, trong đó, 30% là thủy sản đông lạnh.
Bà Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ tịch Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam, cho biết mức tiêu thụ thủy sản trung bình của người Việt hiện vào khoảng 27ki lô gam/năm và trong những năm tới có thể tăng lên 32 ki lô gam/năm, bằng với mức ở Indonesia hiện nay.
Một số ý kiến cho rằng quay về thị trường nội địa là một cách để doanh nghiệp thủy sản đa dạng hóa thị trường, thúc đẩy đầu tư sản xuất những sản phẩm giá trị gia tăng, từng bước cạnh tranh trở lại trên thị trường quốc tế, nơi đang đòi hỏi thủy sản Việt Nam cung cấp nhiều hơn những sản phẩm giá trị gia tăng thay vì chỉ có phi lê cá tra, tôm đông lạnh như lâu nay.
Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 11/10/2015