Ra biển cùng chồng
Không thua kém cánh mày râu, những phụ nữ ở làng Đại Lộc (nay là khu phố 4, thị trấn Cửa Việt, Gio Linh, Quảng Trị) vẫn ngày đêm cùng chồng lênh đênh trên biển. Ở họ có đặc điểm chung là lái thuyền giỏi, thả lưới khéo... Khi chồng đau ốm, họ có thể một mình thay chồng dong thuyền ra khơi theo từng luồng cá...
Vợ chồng chị Hoàng Thị Phước chuẩn bị ngư lưới cụ trước lúc ra khơi
Quà cưới là “thuyền đôi”
Buổi sáng của một ngày cuối tháng 4. Từ tờ mờ sáng, làng Đại Lộc đã rộn ràng tiếng í ới gọi nhau của những người trên bến đợi thuyền về hòa cùng tiếng máy nổ râm ran của những chiếc thuyền đang rẽ sóng vào bờ mang theo cá, tôm... là kết quả của một đêm miệt mài lao động trên biển của các cặp vợ chồng theo nghề biển.
Ở làng biển Đại Lộc khác với các làng biển khác ở vùng đông Gio Linh là trong khi ngư dân đua nhau đóng mới tàu thuyền, mua ngư lưới cụ hiện đại để đánh bắt xa bờ với ước vọng làm giàu từ nghề biển thì nhiều ngư dân làng Đại Lộc vẫn “thủy chung” với những chiếc thuyền nhỏ chỉ đánh bắt gần bờ mà họ quen gọi là “thuyền đôi”. Cả làng Đại Lộc có 30 cặp vợ chồng hàng ngày ra biển trên những chiếc “thuyền đôi” ấy.
Thoăn thoắt múc cá dưới khoang thuyền cho vào chiếc sọt để bên cạnh, chị Lê Thị Hoa (mới 35 tuổi nhưng đã có thâm niên gần 20 năm bám biển) cho biết: “Tôi sinh ra trong một gia đình làm nghề biển nên năm lên 17 tuổi đã theo cha ra khơi thả lưới, đánh cá...Ngày tôi cùng anh Lê Văn Hiền (một ngư dân cùng làng) thành vợ, thành chồng, hai bên nội, ngoại góp tiền mua tặng chiếc “thuyền đôi”. Lập gia đình rồi ra ở riêng, cuộc sống của vợ chồng tôi bắt đầu từ những chuyến ra khơi bám biển”.
Chị Hoa cho biết thêm: “Với vợ chồng tôi, thời gian ở trên biển còn nhiều hơn ở nhà. Giờ đi biển đã trở thành thói quen, ngày nào biển động phải ở nhà là chân tay buồn bã không sao chịu nổi. Đi biển với chồng là để tiết kiệm chi phí. Trên biển, vợ một việc, chồng một việc, đồng tay, đồng chân, đồng lòng, đồng sức nên thấy công việc cũng rất nhẹ nhàng.”
Mỗi chuyến ra khơi của các cặp vợ chồng trên những chiếc “thuyền đôi” ở làng biển Đại Lộc bắt đầu từ 4-5 giờ chiều và lênh đênh cả đêm trên biển cho đến mờ sáng hôm sau thì trở về. Phạm vi đánh bắt của những chiếc “thuyền đôi” này, trước đây chỉ cách bờ vài hải lý nhưng hiện nay tôm cá gần bờ ngày càng cạn kiệt nên họ phải ra xa vài chục hải lý.
Ra khơi xa đánh bắt hải sản nhưng trên những chiếc “thuyền đôi” chỉ có một cây đèn, một tấm tre đan làm chỗ ngủ còn lại phần lớn trong khoang là chỗ để lưới và lồng rập. Trên biển, chồng nổ máy lái thuyền còn vợ buông lưới, thả rập. Xong việc thì thả neo rồi thay phiên nhau ngủ đợi đến giờ kéo lưới.
Trong số những người phụ nữ cùng chồng ra khơi ở làng biển Đại Lộc, không phải ai cũng có điều kiện thuận lợi là được “đào tạo” nghề đi biển trước khi lấy chồng như chị Hoa. Điển hình như chị Lê Thị Bé, Nguyễn Thị Huệ... là những phụ nữ lấy chồng làm nghề biển rồi gắn với nghề biển cùng chồng. Hẳn trong tâm trí họ khó quên được những cơn say sóng tưởng chừng như không ngồi vững được trên thuyền của ngày đầu tiên ra biển cùng chồng. Thương chồng vất vả một mình trên biển, họ vẫn quyết tâm theo chồng ra biển.
Nguy hiểm khó lường
Làm nghề biển vốn là công việc khá nặng nhọc và nguy hiểm nên thông thường chỉ dành cho cánh đàn ông sức dài vai rộng. Với nhiều phụ nữ ở làng biển Đại Lộc, biển là nơi kiếm sống của họ nên họ phải ra biển dù biết rằng đại dương mênh mông luôn tiềm ẩn muôn ngàn rủi ro.

Vợ chồng chị Nguyễn Thị Huệ phấn khởi trở về sau một đêm mưu sinh trên biển
Đánh bắt cá bằng “thuyền đôi” cách bờ vài hải lý đến vài chục hải lý nên khi có biến động về thời tiết họ có thể nhanh chóng quay về bờ nhưng không vì thế mà ở làng biển Đại Lộc không có những nỗi đau chìm thuyền, chết người do lốc tố, bão biển gây ra. Mới đây nhất, vụ chìm 12 “thuyền đôi” vào ngày 30/4/2009 tuy không thiệt hại về người nhưng luôn ám ảnh trong tâm trí những ngư dân làng biển Đại Lộc.
Chị Hoàng Thị Phước nhớ lại: “Chiều hôm đó, cả làng Đại Lộc có 12 chiếc “thuyền đôi” với 12 cặp vợ chồng ra khơi. Sau khi buông lưới, thả rập xong, nhìn trời yên biển lặng thế mà đến khoảng nửa đêm tự nhiên trời nổi lốc tố với sóng to, gió lớn đùng đùng nổi lên khiến 12 chiếc thuyền đang thả neo đều chao đảo dữ dội.
Tôi đang ngủ thì giật mình tỉnh dậy thấy tối tăm mịt mù, giông tố, mưa gió. Lúc này, chồng tôi nhổ neo nổ máy nhưng không tài nào lái được chiếc thuyền bởi nó cứ xoay như chong chóng. Tôi sợ hãi bám chặt lấy mạn thuyền nhưng rồi nước vào thuyền nhiều quá, tôi quên cả sợ hãi lao xuống dùng ca tát nước giữa khoang thuyền.
Tôi không thể tưởng tượng sao lúc đó mình lại can đảm đến vậy. Tôi tát nước trong tuyệt vọng bởi càng tát thì nước trong khoang thuyền càng dâng đầy hơn. Không cầm cự nổi, vợ chồng tôi quyết định ôm hai chiếc can nhựa đựng nước nhảy xuống biển trước khi chiếc thuyền bị đắm.
May mắn là khi đang bơi giữa gió to, sóng lớn thì gặp chiếc tàu đánh cá xa bờ quay về bến vớt chúng tôi lên. Hôm đó, 12 cặp vợ chồng đều thoát chết nhưng 12 chiếc thuyền đều bị đắm cùng toàn bộ ngư lưới cụ. Sau trận lốc tố ấy, tôi nghĩ mình sẽ không bao giờ đi biển nữa. Vậy mà như định mệnh, không bao lâu sau chúng tôi lại sắm sửa thuyền bè để ra khơi”.
Về làng chài, tôi còn được nghe các chị kể nhiều chuyện về những chuyến ra khơi thấm đẫm mồ hôi và nước mắt. Như chuyện có lần ra khơi, hai vợ chồng buông lưới mà không biết lưới rách nên sau một đêm lênh đênh trên biển đến sáng kéo lưới lên không có con cá nào. Vợ chồng ngồi buồn nhìn nhau không nói nên lời.
Rồi có lần ra đến biển, thả lưới xong thì nghe tin bão gần bờ thế là tất tả chèo thuyền vào bờ mà không kịp thu lưới…Đối mặt với trùng khơi khó khăn nhưng mỗi chuyến biển thông thường mỗi “thuyền đôi” của các cặp vợ chồng cũng chỉ kiếm được từ 80 - 100 nghìn đồng từ mớ tôm cá đánh bắt được. Dẫu vậy, đến nay các chị chưa hề có ý định bỏ nghề biển bởi theo các chị hạnh phúc gì hơn khi được cùng chồng ra biển.
Những chiếc “thuyền đôi” tiếp tục cập bến, các chị lại tất tả mang hải sản lên chợ bán, đổi lấy nhu yếu phẩm hàng ngày rồi quay về nhà lo cơm nước cho chồng con. Chiều lại cùng chồng vá lưới chuẩn bị cho chuyến biển trước lúc trời tối.
Cứ như vậy, công việc của những chị em làm nghề biển ở làng biển Đại Lộc này như một con thoi. Tuy vất vả nhưng các chị vẫn quyết tâm bám biển. Trong số gia đình các chị em làm nghề biển ở làng biển Đại Lộc có những gia đình đã có con đi học đại học như gia đình bà Nguyễn Thị Thâm, sau 30 năm bám biển nuôi con ăn học hiện nay các con của bà đều có công ăn việc làm ổn định ở thành phố. Riêng chị Phước có hai con thì người con gái đầu của chị hiện là sinh viên năm thứ 4 Đại học Khoa học Huế…
Tay thoăn thoắt vá mảnh lưới, chị Phước chia sẻ: “Đi biển cùng chồng cực khổ mấy tôi cũng chịu được bởi dù sao cũng sớt chia công việc nặng nhọc cùng chồng. Bây giờ, ước mơ lớn nhất của đời tôi là nuôi dạy các con học hành đến nơi, đến chốn để cuộc đời các con tươi sáng hơn”.
Nguồn: Theo Báo Quảng Trị, 07/05/2012