Cá Khế mõm ngắn

: Malabar trevally
: Carangoides malabaricus
:
Phân loại
Carangoides malabaricusBloch & Schneider, 1801
Cá Khế mõm ngắn
Đặc điểm

Carangoides malabaricus là một loài cá biển thuộc họ Cá khế. Cá có chiều dài 30 – 60cm, 9 gai vây lưng, 20 – 23 tia vây lưng mềm, 3 tia vây hậu môn, 17 – 19 lược mang.

Thân hình bầu dục, dẹp bên, viền lưng tròn đều, viền bụng dạng đoạn thẳng gẫy khúc ở gốc vây bụng. Đầu ngắn chiều cao lớn hơn chiều dài. Mép sau các xương nắp mang trơn, xương nắp mang chính không có gai. Hai bên phần ngực từ gốc vây ngực đến sau gốc vây bụng không phủ vảy. Phần lưng màu xám, phần bụng màu trắng. Mép các vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi màu đen gio.
 

Phân bố

Vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới Ấn Độ Dương và phía tây Thái Bình Dương từ Nam Phi ở phía tây đến Nhật Bản và Úc về phía đông, Ở Việt Nam phân bố ở vịnh Bắc Bộ, Miền Trung, Đông và Tây Nam Bộ.

- Tầng nước sống ở độ sâu (m): 12-151

- Nhiệt độ (°C): 19,909-28,395

- Nitrat (umol/L): 0,096-12,940

- Độ mặn (PPS): 33,899-37,794

- Oxy (ml/l): 1,775-4,725

- Phosphate (umol/l): 0,078-1,170

- Silicat (umol/l): 1,110-17,807

Tập tính

Môi trường sống: biển, rạn san hô, vịnh, cát thềm lục địa. thường hiện diện trong vùng biển có độ sâu 30-140 m.

Thức ăn: chủ yếu là cá nhỏ, tôm sú, ấu trùng tôm, mực và cá nhỏ. Biến đổi về địa ảnh hưởng đến tính ăn của cá, cá Carangoides malabaricus ở Malaysia ưa thích giun nhiều tơ. Nhiều nghiên cứu về cơ chế lọc mang chỉ ra rằng ở cá có 2 xu hướng khác nhau, một trong số đó là khu vực chọn lọc cao loài planktivorous và một diện tích rất thấp đó là những con mồi lớn. Điều này cho thấy cá vừa ăn các loại nhuyễn thể nhỏ vừa ăn cá lớn và mực. Tập tính ăn biến động theo mùa của loài đã được quan sát ở miền bắc Australia, làm cho cá thay đổi thức ăn ưa thích từ tôm paneid sang mực.

Sinh sản

Chu kỳ sinh sản ít được biết đến, hiện chỉ mới có nghiên cứu vào năm 1984 tại vùng biển Ấn Độ. Thời điểm cá sinh sản là vào giữa tháng hai và tháng 3, cao điểm tháng 7 đến tháng 9. Mỗi con cá chỉ sinh sản một lần trong đời. Cá thành thục và sinh sản khi đạt 161mm (6.3 in), số lượng trứng tỉ lệ theo chiều dài và trọng lượng thân.

Ở Nam Phi, cá con thường cư trú trong những bãi cát ngầm dọc theo bờ biển, cá có chu kì sống ngắn nhưng chiếm số lượng lớn trong các cá loài nhiệt đới.
 

Hiện trạng

Ngư cụ khai thác: Lưới kéo đáy, vây. 

Mùa vụ khai thác: Quanh năm.

Kích thước khai thác: 150 - 200mm.

Dạng sản phẩm: Ăn tươi, phơi khô.

Tài liệu tham khảo
  1. http://eol.org/pages/213908/details
  2. http://www.fishbase.org/summary/4443
     
Cập nhật ngày 10/03/2014
bởi
Xem thêm