Chuyển giao cá tra bố mẹ và nâng cao chất lượng giống

Vừa qua, Tép Bạc phản ánh thông tin từ Cục Thủy sản và Hiệp hội Cá tra Việt Nam về chất lượng giống cá tra thấp, hao hụt đến 95% trong ương dưỡng và khi nuôi thương phẩm cũng hao hụt lớn, nhiều bạn đọc muốn biết thêm công tác giống đang thực hiện. Sau đây xin cung cấp thông tin từ Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II (Viện 2)

Cá tra giống
Cá tra giống được nâng cao chất lượng bằng các kỹ thuật mới. Ảnh: saomaisuperfeed

Chuyển giao đàn cá tra hậu bị bố mẹ năm 2024

Viện 2 thực hiện dự án “Phát triển sản xuất giống cá tra” được Bộ NN&PTNT phê duyệt ngày 18/5/2023, trong 4 năm 2023-2026. Nội dung chính: Sản xuất và cung cấp 75.000 con cá tra hậu bị bố mẹ từ đàn cá đã qua chọn lọc nâng cao tốc độ tăng trưởng thế hệ thứ 4 với tiến độ 25.000 con/năm, liên tiếp 3 năm 2024, 2025 và 2026. Đồng thời, xây dựng và tập huấn qui trình ương cá bột lên cá giống đạt tỷ lệ sống cao, chất lượng tốt. 

Đàn cá thế hệ thứ 4 (G4) do Viện 2 thực hiện từ năm 2001, bằng ứng dụng di truyền và công nghệ gen vào chọn giống, đạt tăng trưởng nhanh hơn 31,1% (so với đàn tự nhiên, chưa qua chọn lọc), được sử dụng để sản xuất đàn con, chọn lựa và cung cấp cá hậu bị hiện nay. Với 150 con cá bố mẹ G4, nuôi vỗ, cho sinh sản theo quy trình khoa học được 52.000 con cá giống và nuôi đạt 1 kg/con. Loại bớt cá đực để đạt tỷ lệ đực/cái là 1/2 (cá cái nhiều gấp đôi cá đực để nâng cao hiệu quả sản xuất), gắn dấu điện tử có số (dấu vị trí DCWT) để phân biệt với cá chưa qua chọn giống.

Các địa phương đã đăng ký nhận cá hậu bị bố mẹ và góp vốn đối ứng đến tháng 11/2024 là 25.000 con. Gồm Đồng Tháp 16.800 con, An Giang 4.000 con, Tiền Giang 2.000 con, Cần Thơ 2.200 con. Chất lượng đàn cá giao cho các địa phương: Có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn 30%, cá cái nhiều gấp đôi cá đực, khối lượng 1 kg/con, gắn dấu điện tử có số.

Các cơ sở nhận cá hậu bị bố mẹ được cấp giấy chứng nhận nguồn gốc “đàn cá tra hậu bị chọn giống” của Viện 2 để sản xuất và kinh doanh giống chất lượng cao truy xuất được nguồn gốc. Đồng thời, được tham gia đào tạo tập huấn về qui trình ương cá bột lên cá giống đạt tỷ lệ sống cao, chất lượng tốt; được tham gia vào chuỗi sản xuất cá tra giống chất lượng cao, tạo dựng thương hiệu và uy tín của cơ sở.

Viện 2 cũng cho biết kế hoạch các năm tiếp theo: Tháng 10/2025 và tháng 10/2026, mỗi tháng phát tán 25.000 cá hậu bị bố mẹ.

Các giải pháp nâng cao chất lượng sản xuất giống 

Chọn giống nâng cao tăng trưởng và kháng bệnh. Về tính trạng tăng trưởng, như giới thiệu ở trên, Viện 2 đã chọn lọc quần thể thế hệ thứ 4 (G4) được 639 con, tăng trưởng nhanh hơn 31,1% so với đàn tự nhiên, chưa qua chọn lọc. Đàn cá G4 tham gia sinh sản 120 gia đình tạo thế hệ G5 và đã được chọn lọc trong quý 4/2024.

Cá tra giốngƯơng giống nâng cao tỷ lệ sống trong ao đất

Tính trạng kháng bệnh gan thận mủ, Viện 2 đã chọn lọc quần thể kháng bệnh gan thận mủ thế hệ thứ 1, G1-KB bằng ứng dụng di truyền số lượng và công nghệ gen vào chọn giống, với qui mô 521 cá thể trong năm 2020. Hiệu quả ước tính đạt 13% cho tính trạng kháng bệnh gan thận mủ và đạt 7,5% cho tính trạng tăng trưởng (so sánh với bố mẹ G0-KB). Đàn cá bố mẹ G1-KB đã tham gia sinh sản tạo 120 gia đình thế hệ G2-KB và được chọn lọc trong quý 4/2024.

Ứng dụng công nghệ tuần hoàn trong sản xuất giống cá tra. Viện 2 đã xây dựng được quy trình ương nuôi cá tra giai đoạn bột lên hương bằng hệ thống tuần hoàn (RAS) với mật độ trung bình 7.500 con/m3, đạt tỷ lệ sống trung bình 51,2% và bảo đảm chất lượng tốt không nhiễm bệnh. Xây dựng quy trình ương nuôi cá tra giai đoạn hương lên giống bằng hệ thống tuần hoàn (RAS) với mật độ trung bình 2.020 con/m3 đạt tỷ lệ sống trung bình 99,25%, sinh khối 53,92 kg/m3 và bảo đảm chất lượng tốt không nhiễm bệnh. Hiện đang đăng ký 2 giải pháp hữu ích cho 2 quy trình này.

Ương giống nâng cao tỷ lệ sống trên bể xi măng trong điều kiện kiểm soát môi trường và mầm bệnh. Viện 2 đã xây dựng được quy trình ương cá tra trên bể xi măng (24 m2, che kín giữ nhiệt độ nước ổn định 30-32oC) với mật độ ương 5.000 con/m2. Cho cá ăn ấu trùng Artemia 2 ngày và Moina bổ sung từ ngày thứ 2 đến thứ 10, thức ăn bột cho cá ăn từ ngày thứ 7. Tỷ lệ sống của cá tại thời điểm 10 ngày đạt 71,8 – 81,6%; tại 21 ngày ở giai đoạn nghiên cứu đạt 38,6%, giai đoạn kiểm nghiệm đạt 37,5%. Cá tăng trưởng tốt với trung bình khối lượng 120,1 – 216,4 mg/cá và trung bình chiều dài 19,6 - 21,3 mm. Giải pháp kỹ thuật nổi bật là: Sử dụng vi sinh xử lý nước, cho ăn thức ăn tự nhiên đủ số lượng và chất lượng, kiểm soát môi trường và mầm bệnh chặt chẽ, có giải pháp phòng trị bệnh phù hợp. Kết quả của đề tài nghiên cứu sẽ phổ biến rộng rãi.

Ương giống nâng cao tỷ lệ sống trong ao đất. Thực hiện tại 2 khu sản xuất giống tập trung tại tỉnh An Giang và Đồng Tháp. Kết quả ương từ bột lên hương đạt tỷ lệ sống 39,0-48,3%; từ hương lên giống đạt 43,8-63,9%, tổng cả giai đoạn từ bột lên giống đạt 27,0% và 21,8%. Giải pháp kỹ thuật nổi bật là: Sử dụng vi sinh xử lý nước, gây nuôi thức ăn tự nhiên đủ số lượng và chất lượng, kiểm soát môi trường và mầm bệnh chặt chẽ, có giải pháp phòng trị bệnh phù hợp. Kết quả nghiên cứu sẽ được phổ biến rộng rãi.

Đăng ngày 13/12/2024
Sáu Nghệ @sau-nghe
Kỹ thuật

Tổng quan về công nghệ MBBR trong nuôi trồng thủy sản

MBBR là Moving Bed Biofilm Reactor, hứa hẹn là công nghệ xử lý nước thải ưu việt trong nuôi trồng thủy sản.

công nghệ MBBR
• 18:17 25/09/2021

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP không chỉ loại bỏ hiệu quả nồng độ Ammonium mà còn xử lý đến 90% chất hữu cơ.

Chế biến cá tra
• 07:00 22/04/2020

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản bằng cảm biến nano

Sử dụng được cả trên bờ, dưới nước để quan trắc chất lượng nước, hệ thống cảm biến nano do Viện Công nghệ nano (INT) thuộc Đại học Quốc gia TPHCM nghiên cứu giúp người nuôi trồng thủy sản yên tâm khi chất lượng nước nuôi được cảnh báo tự động kịp thời khi có sự cố.

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản
• 14:35 05/02/2020

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng.Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ
• 08:46 30/10/2019

Phương pháp gây màu nước tự nhiên bền vững trong nuôi trồng thủy hải sản

Hiện nay, nhiều hộ nuôi vẫn dựa vào hóa chất để xử lý, dẫn đến rủi ro về môi trường và sức khỏe vật nuôi. Hiện nay, xu hướng gây màu nước bằng nguyên liệu tự nhiên đang được khuyến khích, vừa đảm bảo hiệu quả, vừa hướng tới phát triển bền vững.

màu nước ao nuôi
• 00:00 26/02/2026

Lộ trình sử dụng thức ăn hiệu quả cho tôm

Hình dạng thức ăn tưởng chừng đơn giản nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng bắt mồi, tiêu hóa và tốc độ tăng trưởng của tôm. Việc lựa chọn đúng dạng thức ăn cho từng giai đoạn không chỉ giúp tối ưu hiệu quả dinh dưỡng mà còn góp phần duy trì môi trường ao nuôi ổn định.

cho tôm ăn
• 00:00 25/02/2026

Vôi nông nghiệp và vôi công nghiệp: Khác nhau ở đâu và vì sao không nên dùng lẫn?

Vôi là vật tư quen thuộc trong nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, nhưng việc nhầm lẫn giữa vôi nông nghiệp và vôi công nghiệp vẫn diễn ra phổ biến. Sử dụng sai loại không chỉ làm giảm hiệu quả cải tạo môi trường mà còn tiềm ẩn rủi ro cho cây trồng, vật nuôi.

vôi nuôi tôm
• 00:00 23/02/2026

Ứng dụng chế phẩm sinh học trong phòng ngừa bệnh thủy sản

Một trong những giải pháp được đánh giá cao hiện nay là ứng dụng chế phẩm sinh học trong phòng ngừa bệnh cho tôm, cá. Đây không chỉ là hướng đi thay thế hóa chất truyền thống mà còn mở ra triển vọng phát triển bền vững cho ngành thủy sản Việt Nam.

chế phẩm sinh học thủy sản
• 00:00 21/02/2026

Tại sao ao nuôi nên dùng đèn UV thay vì thuốc tím hoặc Chlorine?

Xử lý nước là bước bắt buộc trong nuôi tôm. Từ trước đến nay, Chlorine và thuốc tím (KMnO₄) là lựa chọn phổ biến vì giá rẻ và tác dụng nhanh. Tuy nhiên, khi mật độ nuôi ngày càng cao và yêu cầu an toàn sinh học khắt khe hơn, việc phụ thuộc vào hóa chất đang bộc lộ nhiều rủi ro.

ao nuôi
• 06:23 26/02/2026

Chính thức mở cổng đăng ký trước Vietshrimp Asia 2026 & Aquaculture Vietnam 2026 kết nối toàn bộ ngành thủy sản

Trong bối cảnh ngành thủy sản Việt Nam đang đứng trước những cơ hội mới về thị trường, công nghệ và phát triển bền vững, nhu cầu tìm kiếm giải pháp toàn diện, từ con giống, dinh dưỡng, công nghệ nuôi, chế biến đến xuất khẩu,trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Nhằm tạo ra một nền tảng kết nối chiến lược cho cộng đồng doanh nghiệp, chuyên gia và người nuôi, VietShrimp Asia 2026 lần đầu tiên tổ chức cùng Aquaculture Vietnam 2026 tạo nên kỳ triển lãm với quy mô mở rộng, toàn diện, quốc tế hơn bao giờ hết.

Vietshrimp
• 06:23 26/02/2026

Ngành nuôi tôm Việt Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Trong nhiều năm, nuôi tôm được xem là một trong những ngành nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh và đóng góp lớn cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Tuy nhiên, bối cảnh khí hậu hiện nay đang đặt ngành này trước một thực tế khác: rủi ro không còn mang tính mùa vụ, mà đang chuyển thành rủi ro cấu trúc.

tôm
• 06:23 26/02/2026

Sai lầm thường gặp khi phơi đáy ao

Trong nuôi trồng thủy sản, công đoạn phơi đáy ao sau mỗi vụ nuôi được xem là bước làm mới môi trường, giúp loại bỏ mầm bệnh và tạo nền tảng cho vụ nuôi tiếp theo. Tuy nhiên, nhiều hộ nuôi vẫn mắc phải những sai lầm cơ bản, khiến hiệu quả xử lý giảm sút, thậm chí gây thiệt hại lớn.

đáy ao nuôi
• 06:23 26/02/2026

Vôi nông nghiệp và vôi công nghiệp: Khác nhau ở đâu và vì sao không nên dùng lẫn?

Vôi là vật tư quen thuộc trong nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, nhưng việc nhầm lẫn giữa vôi nông nghiệp và vôi công nghiệp vẫn diễn ra phổ biến. Sử dụng sai loại không chỉ làm giảm hiệu quả cải tạo môi trường mà còn tiềm ẩn rủi ro cho cây trồng, vật nuôi.

vôi nuôi tôm
• 06:23 26/02/2026
Some text some message..