Tôm trên kệ tại siêu thị. Ảnh Tepbac
Bảng xếp hạng 10 loài thủy sản nuôi có giá trị kinh tế lớn nhất Việt Nam
Dưới đây là bảng xếp hạng chuyên sâu tập trung vào từng loài nuôi trồng cụ thể, dựa trên các tiêu chí về sản lượng, kim ngạch xuất khẩu và quy mô chuỗi giá trị nội địa năm 2024:
1. Tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei)
Vị thế: Là động cơ tăng trưởng số một của toàn ngành. Tôm thẻ chân trắng chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng kim ngạch xuất khẩu gần 4 tỷ USD của nhóm tôm năm 2024 (riêng nửa đầu năm đã mang về gần 1,2 tỷ USD).
Sản xuất & Thị trường: Nhờ ứng dụng sâu rộng mô hình siêu thâm canh (RAS, lót bạt), năng suất được tối ưu. Mỹ và Trung Quốc là hai thị trường nhập khẩu lớn nhất, đặc biệt ưa chuộng các dòng sản phẩm chế biến sâu (GTGT) từ tôm thẻ Việt Nam.
2. Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)
Vị thế: Đối tượng nuôi nước ngọt độc quyền và mang tính biểu tượng của Việt Nam, chính thức cán mốc kim ngạch xuất khẩu 2 tỷ USD trong năm 2024.
Sản xuất: Diện tích thả nuôi được kiểm soát ở mức 5.370 ha nhưng đem lại sản lượng khổng lồ ước đạt 1,67 triệu tấn.
Thị trường: Trung Quốc và Mỹ tiếp tục là hai cực tăng trưởng chính. Đặc biệt, việc các doanh nghiệp Việt Nam được Mỹ áp mức thuế chống bán phá giá 0 USD/kg trong kỳ rà soát POR19 đã tạo động lực cực lớn cho ngành trong nửa cuối năm 2024.
3. Tôm sú (Penaeus monodon)
Vị thế: Định vị thương hiệu quốc gia ở phân khúc hải sản sinh thái cao cấp. Nửa đầu năm 2024, tôm sú đóng góp trên 200 triệu USD vào kim ngạch xuất khẩu chung.
Sản xuất: Việt Nam vẫn giữ vững ngôi vị là quốc gia có sản lượng tôm sú lớn nhất thế giới. Mô hình nuôi quảng canh cải tiến, tôm - rừng, tôm - lúa giúp sản phẩm duy trì chất lượng vượt trội, đáp ứng hoàn hảo thị hiếu của thị trường Nhật Bản và EU.
4. Tôm hùm (Panulirus spp.)
Vị thế: Mặt hàng xa xỉ phẩm có tốc độ bứt phá ngoạn mục nhất. Chỉ tính riêng nửa đầu năm 2024, xuất khẩu tôm hùm đạt hơn 130 triệu USD, tăng gấp 57 lần so với cùng kỳ năm trước.
Sản xuất & Thị trường: Tập trung tại các vịnh kín gió Nam Trung Bộ (Phú Yên, Khánh Hòa). Lực đẩy khổng lồ từ nhu cầu nhập khẩu tôm hùm xanh và tôm hùm bông của thị trường Trung Quốc là nguyên nhân chính tạo nên đà tăng trưởng bùng nổ này.
5. Cua biển (Scylla spp.)
Vị thế: Mang lại giá trị gia tăng kép khi vừa có giá bán nội địa rất cao, vừa bứt phá mạnh mẽ ở mảng xuất khẩu.
Sản xuất & Thị trường: Tính đến hết quý 3/2024, nhóm cua ghẹ xuất khẩu đạt 228 triệu USD (tăng 67% so với cùng kỳ). Cà Mau tiếp tục là thủ phủ cua biển xen canh lớn nhất. Đáng chú ý, xuất khẩu cua sống sang Trung Quốc tăng trưởng tính bằng lần, biến đây thành thị trường tỷ trọng lớn nhất của cua Việt Nam.
6. Nghêu (Meretrix lyrata)
Vị thế: Sản phẩm chủ lực của nhóm nhuyễn thể có vỏ và là hình mẫu của kinh tế thủy sản xanh. Năm 2024, nhóm nhuyễn thể mang về hơn 195 triệu USD (tính đến hết tháng 11).
Sản xuất & Thị trường: Quần thể nuôi ven biển Nam Định, Thái Bình, Bến Tre duy trì sản lượng ổn định. Nghêu Việt Nam tận dụng rất tốt lợi thế từ chứng nhận khai thác bền vững (MSC) để chiếm lĩnh các hệ thống siêu thị khó tính tại Tây Ban Nha, Italy và Bồ Đào Nha.
7. Cá rô phi (Oreochromis spp.)
Vị thế: Đối tượng nuôi nước ngọt đang trên đà trở thành trục xuất khẩu mới. Kim ngạch xuất khẩu cá rô phi năm 2024 đạt khoảng 41 triệu USD và có mức tăng trưởng liên tục.
Sản xuất & Thị trường: Việt Nam đang tận dụng tốt khoảng trống thị trường khi sản phẩm cá thịt trắng của một số đối thủ cạnh tranh chịu rào cản thuế quan tại Mỹ. Ngành được quy hoạch mở rộng sản lượng để nhắm tới các cột mốc xuất khẩu gần 100 triệu USD trong những năm tiếp theo.
8. Cá lóc (Channa striata)
Vị thế: "Vua" của thị trường thủy sản tiêu dùng nội địa, tạo ra dòng tiền luân chuyển hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm.
Sản xuất: Không mạnh về xuất khẩu nhưng có quy mô sản xuất công nghiệp cực lớn. Sản lượng toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long duy trì trên 85.000 tấn/năm. Kỹ thuật nuôi thâm canh mật độ cao tại các tỉnh như Trà Vinh (đóng góp gần 58.000 tấn) mang lại hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích rất cao cho nông dân.
9. Cá chẽm (Lates calcarifer)
Vị thế: Điểm sáng của ngành nuôi cá biển (marine aquaculture) với giá bán ổn định, biên lợi nhuận tốt.
Sản xuất & Thị trường: Nửa đầu năm 2024, xuất khẩu cá chẽm tăng trưởng 27%, đạt trên 36 triệu USD. Công nghệ nuôi lồng bè HDPE tiên tiến trên biển hở giúp cá chẽm phát triển mạnh mẽ, cung cấp nguồn phi-lê chất lượng cao thay thế một số dòng cá thịt trắng trên thị trường quốc tế.
10. Cá điêu hồng (Oreochromis sp.)
Vị thế: Đối tượng nuôi lồng bè truyền thống, đóng vai trò then chốt trong việc tạo sinh kế cho hàng vạn hộ dân dọc lưu vực sông Tiền, sông Hậu và các hồ chứa miền Trung, Tây Nguyên.
Sản xuất: Dù phần lớn sản lượng (hàng chục ngàn tấn mỗi năm) phục vụ tiêu dùng trong nước, chuỗi liên kết nuôi cá điêu hồng xuất khẩu vẫn đang được hình thành và đóng góp hơn 13 triệu USD vào tổng kim ngạch xuất khẩu chung của ngành thủy sản năm 2024.
Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu Thủy sản năm 2024
Dữ liệu tổng hợp từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) phản ánh rõ nét tỷ trọng của từng nhóm sản phẩm trong tổng doanh thu toàn ngành:
Nhóm Sản phẩm | Kim ngạch xuất khẩu 2024 (Triệu USD) | Tỷ trọng trong tổng kim ngạch (%) |
Tôm (các loại) | 3.877,930 | 39% |
Cá tra | 2.028,292 | 20% |
Cá ngừ | 988,662 | 10% |
Mực, Bạch tuộc | 656,951 | 7% |
Cua, Ghẹ và giáp xác khác | 324,293 | 3% |
Nhuyễn thể có vỏ (Nghêu, Sò, Ốc) | 218,144 | 2% |
Cá biển khác (Cá bơi đàn, Cá chẽm...) | 1.922,268 | 19% |
Tổng cộng | 10.029,279 | 100% |
Nhóm tôm và cá tra tiếp tục khẳng định vai trò mũi nhọn khi chiếm gần 60% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước, minh chứng cho vị thế vượt trội của lĩnh vực nuôi trồng so với hải sản khai thác tự nhiên.
Phân bố nuôi trồng theo vùng nuôi
Địa lý tự nhiên của Việt Nam tạo điều kiện hình thành các vùng nuôi trồng chuyên môn hóa cao:
Đồng bằng sông Cửu Long: Là trung tâm sản xuất thủy sản nuôi trồng lớn nhất cả nước. Vùng sinh thái nước ngọt tại Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Bến Tre là nơi tập trung của ngành hàng cá tra. Vùng nước lợ ven biển như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng là thủ phủ nuôi tôm thẻ chân trắng và tôm sú. Ngoài ra, Cà Mau nổi tiếng với cua biển, còn Trà Vinh là trung tâm cung ứng cá lóc.
Duyên hải Nam Trung Bộ: Có lợi thế về các vịnh biển sâu và kín gió tại Phú Yên, Khánh Hòa, thích hợp phát triển nghề nuôi tôm hùm lồng bè công nghệ cao.
Dải ven biển miền Bắc và miền Trung (Tiền Giang, Bến Tre, Nam Định): Các bãi cát bồi ven biển là môi trường sống phù hợp cho quần thể nhuyễn thể hai mảnh vỏ, tiêu biểu là con nghêu.