Cơ hội phát triển nghề nuôi cá dìa

ThS. Lê Văn Bảo Duy và nhóm nghiên cứu Khoa Thuỷ sản, Trường đại học Nông Lâm Huế vừa nghiên cứu thành công quy trình sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá dìa quanh năm với tỉ lệ sống cao, mở ra nhiều cơ hội phát triển cho nghề nuôi cá dìa nói riêng và sản xuất giống cá nói chung tại Thừa Thiên Huế.

cá dìa
Kiểm tra chất lượng cá giống trước khi thả ra nuôi thịt

Cá dìa là một đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao ở Thừa Thiên Huế và Việt Nam nói riêng, trên thế giới nói chung. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nguồn giống cá dìa hoàn toàn được đánh bắt từ tự nhiên và ngày càng cạn kiệt. Trong khi đó, 10 năm trở lại mặc dù đã có nhiều nghiên cứu ở Việt Nam về sinh sản nhân tạo và ương giống loài cá này nhưng vẫn chưa có công trình nào thành công vì ấu trùng cá dìa rất khó ương nuôi so với các loài cá khác như cá mú, cá hồng, cá vược,... Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn này, ThS.Lê Văn Bảo Duy đã tiến hành nghiên cứu về cá dìa.

Thất bại không nản

Bắt đầu từ tháng 9/2013, ThS. Lê Văn Bảo Duy và nhóm nghiên cứu bắt tay vào nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá dìa với quy mô lớn. Để triển khai đề tài này, anh áp dụng quy trình nghiêm ngặt từ việc lấy và xử lý nguồn nước, chọn giống, nuôi vỗ cá bố mẹ, sản xuất thức ăn và phòng trừ dịch bệnh cho cá ở các giai đoạn phát triển khác nhau. “Cá dìa là một đối tượng rất khó, hơn nữa điều kiện thời tiết ở Huế rất khắc nghiệt, dịch bệnh tràn lan và việc lạm dụng thuốc kháng sinh đã gây khó khăn trong giai đoạn đầu của quá trình nghiên cứu, ThS.Duy cho biết. Tuy nhiên, thuận lợi trong quá trình nghiên cứu là đề tài được thực hiện tại Trung tâm nghiên cứu Thủy sản Phú Thuận (Phú Vang). Đây là cơ sở nghiên cứu của Trường đại học Nông Lâm Huế với trang thiết bị khá hiện đại và đầy đủ. Sự quan tâm tạo điều kiện của lãnh đạo Trường đại học Nông Lâm Huế và Khoa Thủy sản; sự giúp đỡ của các giáo sư, tiến sĩ từ Bỉ, Nhật Bản và những công nghệ mới của họ là thuận lợi lớn để Duy triển khai đề tài này”.

Mỗi năm, ThS.Duy dành hơn một nửa thời gian để nghiên cứu cơ bản ở Bỉ, sau đó áp dụng những kết quả nghiên cứu vào điều kiện ở Việt Nam. Ngoài ra, những kiến thức từ khoá tu nghiệp ngắn hạn tại Nhật Bản và Philippines giúp anh có thêm nhiều kiến thức hữu ích cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu về cá dìa. Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi có được, để đi đến thành công hôm nay là cả một quãng đường dài với nhiều khó khăn và nỗ lực kiên trì theo đuổi nghiên cứu của Bảo Duy. “Trong suốt năm 2014, mình đã hoàn toàn thất bại trong việc ương nuôi, cho đẻ nhiều lần và cá chết 100% chỉ sau vài ngày. Giai đoạn này, mặc dù Duy không nản nhưng các bạn sinh viên làm cùng với mình thì nản. Một số bạn dừng làm việc hoặc chuyển đi nơi khác. Duy phải động viên các bạn còn lại rất nhiều để tiếp tục nghiên cứu”, ThS. Duy kể. Quay lại Bỉ vào cuối năm 2014, ThS.Duy quyết định nghiên cứu theo hướng thay đổi hoàn toàn quy trình nuôi để áp dụng cho năm 2015 và thành công đã đến.

Mong muốn bà con chủ động nguồn giống cá dìa

Sau gần hai năm triển khai, ThS. Duy và nhóm nghiên cứu đã thành công trong việc hoàn thiện quy trình sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá dìa quanh năm với tỉ lệ sống cao và ổn định. Nhóm đã tìm ra được điều kiện môi trường tối ưu, khẩu phần ăn hợp lý và biện pháp xử lý hiệu quả đối với dịch bệnh xảy ra trong suốt quá trình ương nuôi. “Quy trình nuôi mà Duy áp dụng hoàn toàn bằng công nghệ vi sinh và không sử dụng kháng sinh, hóa chất trong xử lý nước và ương nuôi nên có tính bền vững cao. Thức ăn của ấu trùng được sản xuất dựa trên những công nghệ mới nhất đang được áp dụng tại Bỉ và Nhật Bản. Hiện, đề tài đã thành công trong việc cho nuôi vỗ cá bố mẹ trong bể, sử dụng thức ăn công nghiệp; cho đẻ quanh năm; ương nuôi đến giai đoạn cá có khả năng làm giống để nuôi thương phẩm”, ThS. Duy cho hay.

Về kết quả đề tài nghiên cứu mà mình đeo đuổi thực hiện suốt hai năm qua, ThS.Duy cho rằng: “Đây là đề tài đầu tiên Duy chủ trì và dành hầu hết thời gian cho nó. Mình rất tâm đắc với kết quả nghiên cứu đạt được vì nó xuất phát từ thực tiễn và có tiềm năng được ứng dụng rộng rãi, giúp bà con nông dân có nguồn giống chủ động để nuôi quanh năm, tránh phụ thuộc hoàn toàn vào cá giống tự nhiên (vốn chỉ xuất hiện 1 lần vào tháng 8 trong năm) và đang ngày càng cạn kiệt. Tuy nhiên, Duy vẫn đang đeo đuổi mục tiêu tiếp theo, đó là nâng cao tỉ lệ sống và giảm chi phí sản xuất. Hiện, Duy đang thực hiện ở quy mô thí nghiệm với số lượng cá sản xuất ra chưa nhiều, giá thành còn khá cao. Từ nghiên cứu cho đến thực tiễn vẫn còn phải trải qua quá trình hoàn thiện quy trình nuôi thương mại. Trong thời gian tới, mình sẽ tiếp tục nghiên cứu các phương pháp nuôi quy mô lớn và để giảm giá thành con giống, từ đó người dân có thể mua được con giống giá cạnh tranh so với con giống tự nhiên”.

ThS. Lê Văn Bảo Duy đang theo học chương trình Tiến sĩ tại Đại học Ghent, Vương quốc Bỉ. Đề tài nghiên cứu Sinh sản nhân tạo cá dìa tại Thừa Thiên Huế là một phần trong luận văn tiến sĩ của Duy với sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Phước, Khoa Thủy sản, Trường đại học Nông Lâm Huế. Đề tài được tài trợ chính bởi dự án VLIR-IUC giữa Đại học Huế và Đại học Ghent (Bỉ), và dự án ACCCU (Hà Lan).

“Trường đã xác định phương hướng hoạt động khoa học công nghệ phải xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn sản xuất và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của địa phương; nghiên cứu khoa học phải đi đôi với hoạt động chuyển giao sản phẩm nghiên cứu, quy trình công nghệ để kết quả nghiên cứu đi vào thực tiễn cuộc sống. Sinh sản nhân tạo cá dìa là hướng nghiên cứu theo định hướng đó. Thành công của đề tài có ý nghĩa quan trọng, mở ra triển vọng trong việc cung cấp con giống quanh năm cho bà con nông dân tỉnh nhà...”
PGS.TS.Lê Văn An, Hiệu trưởng Trường đại học Nông Lâm Huế

Báo Thừa Thiên Huế, 16/07/2015
Đăng ngày 17/07/2015
Bài, ảnh: Đỗ Ngọc
Nuôi trồng

FLOCponics: Sự tích hợp hoàn hảo của công nghệ biofloc và cây thủy canh

FLOCponics là một loại Aquaponics thay thế tích hợp công nghệ biofloc (BFT) với sản xuất cây trồng không sử dụng đất.

flocponics
• 15:51 07/03/2022

Mô hình nuôi ba ba lãi 300 triệu đồng/năm

Mô hình nuôi ba ba của ông Lương Thành Kỷ, ở thị trấn Búng Tàu, huyện Phụng Hiệp. Qua 14 năm phát triển, đến nay đàn ba ba sinh sản của ông Kỷ đã phát triển hơn 1.500 con, mỗi năm xuất bán ra thị trường từ 8.000-10.000 con giống, trừ hết các khoản chi phí, lợi nhuận gần 300 triệu đồng/năm.

Ba ba.
• 09:38 14/06/2021

Kinh tế ổn định nhờ nuôi ba ba sinh sản

Hơn 20 năm nuôi ba ba sinh sản, anh Nguyễn Đức Lợi, ấp Phước Thọ B, xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng có cuộc sống khấm khá. Gắn bó lâu năm với con ba ba một phần cũng vì sự yêu thích loài vật này, ba ba lại dễ nuôi, nhẹ công chăm sóc, thị trường tiêu thụ tốt, đem lại nguồn thu nhập ổn định cho gia đình anh.

• 15:40 03/03/2021

Thu trăm triệu đồng mỗi năm từ nuôi ba ba

Nuôi ba ba gai là một công việc đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn và kỹ thuật cao. Nhưng bằng ý chí, nghị lực, sự đam mê tận tụy với công việc cùng với áp dụng các kiến thức khoa học kỹ thuật mà ông Phạm Tất Đạt ở xã Yên Bình, thành phố Tam Điệp đã thành công, vươn lên trở thành triệu phú.

kỹ thuật sản xuất giống baba
• 10:00 30/05/2017

Nuôi tôm khỏe mạnh chỉ từ loại lá quen thuộc trong vườn nhà

Không chỉ là loại cây ăn quả quen thuộc, lá ổi từ lâu đã được biết đến như một vị thuốc dân gian trị bệnh đường ruột.

Lá ổi
• 09:00 21/01/2026

Thay đổi tư duy nuôi tôm để phát triển bền vững

Từ chỗ phó mặc cho thời tiết với cách nuôi truyền thống, người dân xã An Lương (Gia Lai) đang mạnh dạn chuyển đổi sang mô hình thâm canh công nghệ cao.

Ao tôm
• 11:52 20/01/2026

Ảnh hưởng từ sự dao động pH tưởng chừng vô hại đến gan tụy tôm

Gan tụy tôm không tổn thương đột ngột mà suy yếu dần theo những biến động môi trường rất nhỏ. Trong đó, sự dao động pH tuy không lớn nhưng lại kéo dài chính là yếu tố thường bị người nuôi bỏ qua, tạo tiền đề cho những đợt bùng phát dịch bệnh khó kiểm soát.

Gan tụy tôm thẻ
• 09:00 20/01/2026

Xử lý mùn bã hữu cơ đáy ao trong nuôi tôm giữa vụ

Trong giai đoạn giữa vụ nuôi tôm thâm canh, mùn bã hữu cơ tích tụ dưới đáy ao là nguyên nhân chính gây suy giảm oxy, phát sinh khí độc và làm tăng nguy cơ dịch bệnh. Nhận diện sớm và xử lý đúng kỹ thuật lớp mùn bã hữu cơ giúp ổn định môi trường nước và duy trì tốc độ tăng trưởng của đàn tôm.

Nước ao tôm
• 11:48 19/01/2026

Ảnh hưởng từ sự dao động pH tưởng chừng vô hại đến gan tụy tôm

Gan tụy tôm không tổn thương đột ngột mà suy yếu dần theo những biến động môi trường rất nhỏ. Trong đó, sự dao động pH tuy không lớn nhưng lại kéo dài chính là yếu tố thường bị người nuôi bỏ qua, tạo tiền đề cho những đợt bùng phát dịch bệnh khó kiểm soát.

Gan tụy tôm thẻ
• 21:42 20/01/2026

Công nghệ nuôi cá trên cạn

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp và nguồn lợi thủy sản tự nhiên đang chạm ngưỡng giới hạn, áp lực lên các dòng sông và vùng biển ngày càng lớn.

Nuôi cá
• 21:42 20/01/2026

Xử lý mùn bã hữu cơ đáy ao trong nuôi tôm giữa vụ

Trong giai đoạn giữa vụ nuôi tôm thâm canh, mùn bã hữu cơ tích tụ dưới đáy ao là nguyên nhân chính gây suy giảm oxy, phát sinh khí độc và làm tăng nguy cơ dịch bệnh. Nhận diện sớm và xử lý đúng kỹ thuật lớp mùn bã hữu cơ giúp ổn định môi trường nước và duy trì tốc độ tăng trưởng của đàn tôm.

Nước ao tôm
• 21:42 20/01/2026

Cuộc đổi ngôi ngoạn mục của các thị trường xuất khẩu thủy sản năm 2025

Khép lại năm 2025, xuất khẩu thủy sản Việt Nam đã ghi nhận con số ấn tượng 11,3 tỷ USD, tăng 12,4% so với năm trước. Thành quả này có được nhờ cuộc bứt tốc mạnh mẽ trong quý IV và sự linh hoạt chiến lược của các doanh nghiệp đầu ngành trước những biến động khó lường của thị trường quốc tế.

Tôm thẻ
• 21:42 20/01/2026

"Quái ngư" miền Trung hình thù kỳ dị, giá tiền triệu vẫn được săn lùng

Sở hữu ngoại hình vuông vức như một chiếc hộp và lớp da cứng như áo giáp, cá bò hòm thường khiến nhiều người lần đầu nhìn thấy phải giật mình. Thế nhưng, trái ngược với vẻ ngoài đáng sợ, loài cá này lại được ví như "gà nước mặn" với hương vị thơm ngon thượng hạng, được giới sành ăn săn lùng dù giá lên tới cả triệu đồng.

Cá bò hòm
• 21:42 20/01/2026
Some text some message..