Lợi thế và cơ hội
Cục Thủy sản khẳng định, ngành tôm đang được sự quan tâm, ủng hộ của các cấp từ Trung ương đến địa phương, có định hướng phát triển đúng là bền vững, tăng giá trị sản phẩm, an toàn thực phẩm. Có hệ thống văn bản quản lý, chính sách, chương trình, đề án, dự án…phục vụ phát triển ngành tôm khá đầy đủ. Người tiêu dùng toàn cầu có xu hướng tăng tiêu thụ thuỷ hải sản, đặc biệt với tôm, và thị trường không ngừng mở rộng khi Việt Nam hội nhập sâu qua các hiệp định FTA đã ký.
Ngành tôm nước ta có nhiều kinh nghiệm áp dụng khoa học kỹ thuật mới trong sản xuất giống, nuôi và bảo quản chế biến; đã phát triển nhiều mức độ khác nhau. Doanh nghiệp chế biến xuất khẩu có nhân lực và kỹ thuật trình độ cao.
Quá trình phát triển ngành tôm Việt Nam trong vài thập kỷ qua đã cho một số bài học kinh nghiệm về công tác quản lý và chỉ đạo sản xuất. Dễ thấy là cơ chế chính sách phù hợp đã thu hút nguồn lực của xã hội, kể cả các doanh nghiệp lớn hàng đầu thế giới đầu tư cho ngành tôm. Đa dạng được các mô hình nuôi theo điều kiện của mỗi vùng sinh thái, nuôi công nghiệp, tôm-rừng, tôm-lúa. Kiểm soát tốt chất lượng sản phẩm để đa dạng hóa, mở rộng thị trường.
Định hướng phát triển
Để khai thác lợi thế và cơ hội, theo Cục Thủy sản định hướng, phát huy tiềm năng về điều kiện tự nhiên (đặc biệt về tôm sú), công nghệ chế biến và kinh nghiệm của người dân để phát triển ngành tôm hiệu quả, bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu. Phát triển ngành tôm theo quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao và các thành tựu khoa học kỹ thuật mang tính đột phá, thân thiện môi trường để tăng năng suất, chất lượng. Hướng tới không sử dụng hóa chất, thuốc kháng sinh ở các khâu trong chuỗi sản xuất, lưu thông tôm.
Ngành tôm nước ta có nhiều kinh nghiệm áp dụng khoa học kỹ thuật mới trong sản xuất giống, nuôi và bảo quản chế biến; đã phát triển nhiều mức độ khác nhau. Ảnh: baochinhphu.vn
Tổ chức lại sản xuất theo hướng hợp tác, liên kết các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ để tạo vùng sản xuất nguyên liệu tập trung quy mô lớn. Đầu tư phát triển ngành tôm theo tư duy hệ thống và chuỗi giá trị, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò dẫn dắt và là động lực.
Một số mục tiêu cụ thể. Đến năm 2025: Diện tích nuôi 750.000 ha (tôm sú 600.000 ha, TCT 150.000 ha); sản lượng 1.100.000 tấn (tôm sú 400.000 tấn, TCT 700.000 tấn); kim ngạch xuất khẩu 8,4 tỷ USD. Chủ động gia hoá, chọn tạo và sản xuất trên 90% tôm sú bố mẹ, 70% tôm TCT bố mẹ.
Giai đoạn 2025 – 2030: Ổn định diện tích nuôi nhưng tăng năng suất để tăng sản lượng lên 1.300.000 tấn (tôm sú 550.000 tấn, TCT 750.000 tấn); kim ngạch xuất khẩu 12 tỷ USD. Chủ động gia hoá, chọn tạo và sản xuất 100% tôm sú và tôm TCT bố mẹ.
Giải pháp trọng tâm
Vẫn theo Cục Thủy sản, sản xuất giống: Phát triển hệ thống sản xuất giống chất lượng cao (gia hoá chọn tạo tôm sú bố mẹ tăng trưởng nhanh, kháng một số bệnh cho vùng nuôi tôm sinh thái, tôm rừng…). Nuôi tôm thương phẩm: Áp dụng kỹ thuật nuôi tiết kiệm nước & nhiên liệu, thân thiện môi trường, hướng tới không sử dụng kháng sinh, nuôi có chứng nhận đáp ứng các yêu cầu của thị trường; nuôi theo hướng giảm thiểu phát thải nhà kính.
Tôm thẻ chân trắng thương phẩm
Đa dạng hóa các phương thức nuôi theo điều kiện từng vùng. Với các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên Huế: Ưu tiên phát triển các hình thức nuôi có kiểm soát nhiệt độ trong mùa đông, nuôi thâm canh, siêu thâm canh trong nhà lưới, bể xi măng, ao lót bạt. Với các tỉnh ven biển Tây Nam Bộ: Ưu tiên phát triển nuôi tôm sú sinh thái ở rừng ngập mặn, nuôi hữu cơ, tôm - lúa.
Quan tâm đầu tư hạ tầng vùng nuôi đáp ứng yêu cầu sản xuất (giao thông, điện, nước…). Thực hiện tốt quan trắc, cảnh báo môi trường và dịch bệnh. Tăng cường nguồn nhân lực được đào tạo để góp phần thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp kỹ thuật nhằm thực hiện được mục tiêu đề ra.