Khuyến cáo phòng ngừa bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) cho tôm nuôi

Theo kết quả nghiên cứu mới nhất về bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) của Trường Đại học Arizona (Mỹ) công bố, tác nhân gây bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) trên tôm nuôi nước lợ được xác định do 1 dòng đặc biệt của vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus tồn tại trong dạ dày của tôm sinh ra độc tố cực mạnh. Mầm bệnh AHPND trong tôm không gây ngộ độc thực phẩm cho người và bị bất hoạt bởi sự đông lạnh và rã đông.

AHPND
Ảnh minh họa: tepbac.com

Theo kết luận tại Hội nghị bàn giải pháp phát triển bền vững nuôi tôm nước lợ tại Sóc Trăng vào ngày 12-6-2013, do Tổng cục Thủy sản tổ chức, bệnh hoại tử gan tụy cấp tính xuất hiện trên tôm nuôi ngay từ giai đoạn tôm giống. Một số yếu tố môi trường ao nuôi bất lợi như nhiệt độ, độ mặn, độ pH tăng cao và hàm lượng ôxy hòa tan thấp làm cho bệnh AHPND trở nên trầm trọng hơn.

Nhằm kịp thời ngăn chặn và hạn chế thấp nhất bệnh hoại tử gan tụy cấp tính xảy ra trên tôm biển nuôi trong thời gian tới, Chi cục Nuôi trồng Thủy sản khuyến cáo một số nội dung sau:

- Kéo dài thời gian giữa 2 vụ liền kề hoặc chuyển sang nuôi các đối tượng khác, như nuôi luân canh hoặc đa canh kết hợp với nuôi cá rô phi để cắt đứt vòng đời của tác nhân gây bệnh và cải thiện môi trường nước ao nuôi (mật độ thả cá 30 con/m2, vèo trong ao chiếm khoảng 5% diện tích ao nuôi và thu hoạch lúc cá cỡ 300g/con).

- Chuẩn bị tốt môi trường ao nuôi thật kỹ như: sên vét bùn đáy ao triệt để, tiến hành rửa và ngâm đáy ao 2-3 lần bằng vôi đá (CaO), liều lượng 30kg/1.000m2, sử dụng thêm vôi sống (CaO) rải đều khắp nền đáy và bờ ao liều lượng 20-25kg/1.000m2. Sau đó tiếp tục phơi ao từ 5 đến 7 ngày, phơi khô đáy ao, cày xới nhằm kiểm soát chất hữu cơ và các tác nhân gây bệnh.

- Cần có ao lắng, xử lý nước riêng biệt, tiệt trùng nguồn nước đầu vào trong ao lắng hoặc ao nuôi trước khi thả tôm bằng hóa chất Chlorine liều lượng 30ppm (30kg/1.000m3). Không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật diệt giáp xác, tuy không có vai trò là tác nhân trực tiếp nhưng đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của dịch bệnh.

- Người dân nên chọn mua tôm giống sạch bệnh, được kiểm dịch của cơ quan chức năng; ngoài kiểm tra các tác nhân gây bệnh đốm trắng (WSSV), đầu vàng (YHV), MBV, bệnh Taura (TSV), bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và biểu mô dưới vỏ (IHHNV) cần phải kiểm tra thêm bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND). Tuyệt đối không mua con giống trôi nổi, không rõ nguồn gốc, không qua kiểm dịch để thả nuôi.

- Hạn chế thả tôm Postlarva có kích cỡ nhỏ hơn12mm vào ao nuôi, nên áp dụng biện pháp ương tôm giống trong diện tích nhỏ (vèo hoặc ao nhỏ) trong thời gian ngắn (10-15 ngày) trước khi thả ra ao nuôi. Thả tôm với mật độ hợp lý, không thả quá dày (tôm chân trắng thả từ 40-50 con/m2; tôm sú thả từ 20-25 con/m2).

- Thức ăn phải đảm bảo đủ chất lượng cũng như số lượng khi cho tôm ăn, không nên cho ăn thừa. Không nên sử dụng thức ăn hết hạn sử dụng hoặc bị mốc để cho tôm ăn. Trong khẩu phần ăn của tôm cần bổ sung thêm vitamin C, khoáng chất… để tăng sức đề kháng cho tôm.

- Luôn đảm bảo ôxy hòa tan trong các tầng nước ao (cần duy trì hàm lượng ôxy hòa tan trên 4ppm); duy trì độ mặn và nhiệt độ nước trong ngưỡng thích hợp; các tháng có nhiệt độ cao duy trì nước ao nuôi tôm từ 1,2m trở lên; chú ý cân bằng hàm lượng khoáng trong ao nuôi nhất là trong điều kiện độ mặn thấp. Nên định kỳ diệt khuẩn trong ao nuôi tôm.

- Chú ý sử dụng chế phẩm vi sinh, cần sử dụng đúng cách, chọn sản phẩm có uy tín và chất lượng; sản phẩm nằm trong danh mục được phép lưu hành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; khuyến khích sử dụng các chế phẩm nâng cao sức đề kháng của tôm, hạn chế thấp nhất việc sử dụng kháng sinh.

- Quản lý chặt chẽ các yếu tố môi trường nước trong ao nuôi như: pH (kiểm tra 2 lần/ngày, vào lúc 6 giờ và 14 giờ); độ kiềm (định kỳ 7-10 ngày/lần); NH3, H2S, ôxy hòa tan, mật độ tảo (định kỳ 3 ngày/lần) cần điều chỉnh trong ngưỡng thích hợp nhất, đặc biệt là mật độ tảo (màu nước) cần giữ ổn định trong suốt thời gian nuôi.

Để hạn chế thấp nhất thiệt hại cho người nuôi tôm do bệnh hoại tử gan tụy cấp tính xảy ra, Chi cục Nuôi trồng Thủy sản đề nghị UBND các xã nuôi tôm biển thông tin đến các tổ chức, hộ nuôi tôm biển biết và vận dụng tốt các nội dung khuyến cáo này.

Báo Đồng Khởi
Đăng ngày 28/09/2013
KS. Huỳnh Nguyên Duy
Kỹ thuật

Tổng quan về công nghệ MBBR trong nuôi trồng thủy sản

MBBR là Moving Bed Biofilm Reactor, hứa hẹn là công nghệ xử lý nước thải ưu việt trong nuôi trồng thủy sản.

công nghệ MBBR
• 18:17 25/09/2021

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP không chỉ loại bỏ hiệu quả nồng độ Ammonium mà còn xử lý đến 90% chất hữu cơ.

Chế biến cá tra
• 07:00 22/04/2020

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản bằng cảm biến nano

Sử dụng được cả trên bờ, dưới nước để quan trắc chất lượng nước, hệ thống cảm biến nano do Viện Công nghệ nano (INT) thuộc Đại học Quốc gia TPHCM nghiên cứu giúp người nuôi trồng thủy sản yên tâm khi chất lượng nước nuôi được cảnh báo tự động kịp thời khi có sự cố.

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản
• 14:35 05/02/2020

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng.Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ
• 08:46 30/10/2019

Vôi nông nghiệp và vôi công nghiệp: Khác nhau ở đâu và vì sao không nên dùng lẫn?

Vôi là vật tư quen thuộc trong nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, nhưng việc nhầm lẫn giữa vôi nông nghiệp và vôi công nghiệp vẫn diễn ra phổ biến. Sử dụng sai loại không chỉ làm giảm hiệu quả cải tạo môi trường mà còn tiềm ẩn rủi ro cho cây trồng, vật nuôi.

vôi nuôi tôm
• 00:00 23/02/2026

Ứng dụng chế phẩm sinh học trong phòng ngừa bệnh thủy sản

Một trong những giải pháp được đánh giá cao hiện nay là ứng dụng chế phẩm sinh học trong phòng ngừa bệnh cho tôm, cá. Đây không chỉ là hướng đi thay thế hóa chất truyền thống mà còn mở ra triển vọng phát triển bền vững cho ngành thủy sản Việt Nam.

chế phẩm sinh học thủy sản
• 00:00 21/02/2026

Bỏ túi bí quyết giảm hệ số FCR xuống dưới 1.2 mà không cần đổi loại thức ăn

Trong cơ cấu chi phí nuôi tôm và cá thâm canh, thức ăn thường chiếm 50–65% tổng chi phí sản xuất. Vì vậy, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) không chỉ là một chỉ số kỹ thuật mà còn là thước đo trực tiếp của hiệu quả kinh tế. Chênh lệch 0,1 FCR ở quy mô vài chục tấn có thể tạo ra khoảng cách lợi nhuận rất lớn.

tôm
• 10:00 14/02/2026

Chủ động phòng bệnh TiLV – bảo vệ đàn cá rô phi ngay từ đầu vụ

Tilapia Lake Virus (TiLV) đang được xem là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với ngành nuôi cá rô phi toàn cầu. Virus này có thể gây tỷ lệ chết lên tới 80–90%, lây lan nhanh và hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu.

cá rô phi
• 12:00 11/02/2026

Vietshrimp Asia 2026 & Aquaculture Vietnam 2026 – Kết nối toàn diện chuỗi giá trị, thúc đẩy tương lai ngành thủy sản bền vững

Năm 2025 đánh dấu một cột mốc quan trọng của ngành thủy sản Việt Nam, với tổng sản lượng đạt gần 10 triệu tấn và kim ngạch xuất khẩu khoảng 11,3 tỷ USD – mức cao nhất từ trước đến nay, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng bền vững giai đoạn 2026. Các sản phẩm chủ lực như tôm và cá tra tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt xuất khẩu, trong khi nuôi biển và đa dạng hóa đối tượng nuôi từng bước mở rộng nguồn cung và gia tăng giá trị chuỗi sản xuất.

• 12:27 23/02/2026

1.852 container tôm Indonesia quay lại thị trường Mỹ sau bê bối nhiễm phóng xạ

Sau nhiều tháng gián đoạn vì sự cố nhiễm chất phóng xạ trong một số lô hàng, xuất khẩu tôm của Indonesia sang Mỹ đã chính thức nối lại, với 1.852 container được thông quan trong giai đoạn từ cuối tháng 10/2025 đến đầu tháng 2/2026.

tôm đông lạnh
• 12:27 23/02/2026

Chuẩn hóa phương pháp xác định thủy ngân hữu cơ trong thủy sản

Việc ban hành Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 14443:2025 về xác định hàm lượng thủy ngân hữu cơ trong thủy sản không chỉ là một bước điều chỉnh kỹ thuật, mà phản ánh yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm trong bối cảnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam phụ thuộc lớn vào các thị trường khó tính.

cá
• 12:27 23/02/2026

Khác biệt giữa ao tôm lót bạt và ao nuôi tôm truyền thống: Nên chọn mô hình nào?

Trong bối cảnh dịch bệnh và ô nhiễm môi trường nuôi ngày càng gia tăng, mô hình ao tôm lót bạt đang dần thay thế ao đất truyền thống tại nhiều vùng nuôi trọng điểm. Tuy nhiên, việc lựa chọn không chỉ phụ thuộc vào xu hướng mà còn liên quan đến điều kiện kỹ thuật, vốn đầu tư và khả năng quản lý của người nuôi.

ao nuôi
• 12:27 23/02/2026

Những thực phẩm không nên ăn cùng hải sản để tránh rối loạn tiêu hóa

Hải sản giàu đạm, khoáng chất và vi lượng thiết yếu như kẽm, sắt, canxi… Tuy nhiên, không phải thực phẩm nào cũng phù hợp khi kết hợp cùng tôm, cua, cá, mực. Một số sự kết hợp tưởng như vô hại có thể gây khó tiêu, rối loạn tiêu hóa, thậm chí tăng nguy cơ ngộ độc nếu sử dụng không đúng cách.

hải sản
• 12:27 23/02/2026
Some text some message..