Lai tạo thành công cá mú lai mới sử dụng tinh trùng đông lạnh

Tại Việt Nam nhóm nghiên cứu thuộc Chi nhánh Ven biển/Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga đã công bố kết quả nghiên cứu cho sinh sản giữa cá mú nghệ Epinephelus lanceolatus đực và cá mú đen Epinephelus coioides cái tạo thành con lai mới. Đây là kết quả thực hiện thành công được công bố đầu tiên ở Việt Nam, với những kết quả ban đầu đạt được sẽ là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu làm chủ được công nghệ sản xuất cá mú lai mới giữa cá mú nghệ Epinephelus lanceolatus đực và cá mú đen Epinephelus coioides cái trong tương lai.

Cá mú
Đây là kết quả thực hiện thành công được công bố đầu tiên ở Việt Nam

Tạo con cá mú lai mới giữa cá mú nghệ đực và cá mú đen cái 

Cá mú nghệ Epinephelus lanceolatus đực là loài kích thước và khối lượng lớn, kích thước tối đa dài đến 3 m, khối lượng có thể đạt 500-600 kg. Có tốc độ tăng trưởng nhanh, khả năng chịu đựng cao đối với các điều kiện khắc nghiệt của môi trường, khả năng chống chịu bệnh tật cao, khả năng di chuyển và sống sót cao của tinh trùng trong điều kiện bảo quản lạnh đạt 70 - 80%. Cá mú đen Epinephelus coioides cái có thịt trắng tươi ngon, giá trị dinh dưỡng cao, tốc độ tăng trưởng nhanh, khả năng thích nghi với môi trường tốt, sức sinh sản cao (600.000 - 1.900.000 trứng/kg cá cái), mùa vụ sinh sản quanh năm.  

Nguồn cá bố mẹ được thu từ tự nhiên đưa về nuôi thành thục tại lồng bè. Cá mú nghệ E. lanceolatus đực có chiều dài khoảng 1 m, khối lượng 50 kg, 3 tuổi; cá mú đen E. coioides cái có chiều dài 30-45 cm, khối lượng 3,5-6 kg, 4 tuổi. Việc cho cá mú lai đẻ tiến hành vào ban đêm khoảng 18h đến 24h do lúc này nhiệt độ thấp, ít ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển phôi của trứng. Trứng cá mú lai (mới thụ tinh) trương nước, nổi lơ lửng gần mặt nước, có đường kính 857 µm và đường kính giọt dầu là 185 µm.   

Kết quả nghiên cứu ban đầu cho thấy quá trình phát triển phôi để hình thành ấu trùng trong thời gian 18h-18h30, tỷ lệ nở thu được từ 65-80%. Ấu trùng sau 2 ngày hết noãn hoàng, ăn thức ăn ngoài bằng thức ăn là tảo, luân trùng siêu nhỏ.  


Sự phát triển từ giai đoạn mới nở đến giai đoạn cá con ở cá mú lai (E. coioides x E. lanceolatus),

(a)–(f): cá mú lai và (g)–(l): cá mú không lai. (a) (g) mới nở; (b) (h) 7 DPH; (c) (i) 14 DPH; (d) (j) 21 DPH; (e) (k) 28 DPH; (f) (l) 45 DPH (DPH - ngày sau khi nở). Cá mú lai có màu vàng với 5–7 vạch đen xiên trên các đường bên của chúng, tương tự như cá mú nghệ vào ngày thứ 45 sau khi nở 

Sau 45 ngày ấu trùng tiến hóa hoàn thiện cơ thể để hình thành cá có kích thước 1,5 cm. Kết quả ương nuôi ấu trùng đạt tỷ lệ sống 8-10%, số lượng cá hương thu được là 15.000 con, cho cá ăn bằng thức ăn là luân trùng, Artemia và thức ăn tổng hợp. Hiện nay, nhóm nghiên cứu vẫn đang tiếp tục sản xuất giống và nghiên cứu ương nuôi cá đến giai đoạn cá giống 6 cm và xây dựng quy trình sản xuất giống.  

Đông lạnh tinh trùng cá 

Đầu tiên, mỗi con cá được gây mê bằng quinaldine (10 mg/L trong 1 đến 3 phút cho đến khi chuyển động nắp mang giảm khoảng 80%. Lỗ sinh dục được rửa bằng dung dịch CT (0,1 mMol) và làm khô bằng vải khô vô trùng để tránh tinh trùng bị nhiễm nước tiểu hoặc phân, và tinh trùng được thu thập vào cốc thủy tinh 25 mL bằng cách nhẹ nhàng vuốt bằng tay. Tinh trùng thu thập được lưu trữ trong nước đá và sử dụng để bảo quản đông lạnh. 

Một loại chất được sử dụng để bảo quản tinh trùng là MFR (Marine Fish Ringers), CT (sodium citrate) được trộn với DMSO hoặc trehalose. Tinh trùng để vào dung dịch bảo quản theo tỷ lệ 1:9 (tinh trùng: chất bảo quản) và được trộn với 10% DMSO hoặc 15% trehalose theo tỷ lệ 1:1. Hỗn hợp được để vào tube chuyên dụng sau đó được đặt vào buồng đông lạnh với thời gian cân bằng là 10 phút. Sau đó được đông lạnh trong tủ đông với quy trình đông lạnh một bước (10°C/phút từ 25 đến −80 °C). Khi nhiệt độ đông lạnh cuối cùng đạt −80 °C, các mẫu được lấy ra khỏi buồng đông lạnh và bảo quản trong nitơ lỏng. Các mẫu tinh trùng được đông lạnh trong 10 giờ trước khi đánh giá khả năng vận động và thụ tinh của tinh trùng sau khi rã đông. Các mẫu tinh trùng đông lạnh được rã đông ở 40 °C trong 15 giây. 

Sản xuất giống lai bằng tinh trùng bảo quản lạnh chỉ là bước đầu tiên hướng tới việc cải thiện sản xuất giống cá mú. Các nghiên cứu tiếp theo sẽ xem xét khả năng sống sót, tăng trưởng và sức khỏe của giống lai và so sánh với các giống cá mú không lai. 

Đăng ngày 26/09/2024
Hồng Huyền @hong-huyen
Kỹ thuật

Tổng quan về công nghệ MBBR trong nuôi trồng thủy sản

MBBR là Moving Bed Biofilm Reactor, hứa hẹn là công nghệ xử lý nước thải ưu việt trong nuôi trồng thủy sản.

công nghệ MBBR
• 18:17 25/09/2021

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP không chỉ loại bỏ hiệu quả nồng độ Ammonium mà còn xử lý đến 90% chất hữu cơ.

Chế biến cá tra
• 07:00 22/04/2020

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản bằng cảm biến nano

Sử dụng được cả trên bờ, dưới nước để quan trắc chất lượng nước, hệ thống cảm biến nano do Viện Công nghệ nano (INT) thuộc Đại học Quốc gia TPHCM nghiên cứu giúp người nuôi trồng thủy sản yên tâm khi chất lượng nước nuôi được cảnh báo tự động kịp thời khi có sự cố.

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản
• 14:35 05/02/2020

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng.Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ
• 08:46 30/10/2019

Vôi nông nghiệp và vôi công nghiệp: Khác nhau ở đâu và vì sao không nên dùng lẫn?

Vôi là vật tư quen thuộc trong nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, nhưng việc nhầm lẫn giữa vôi nông nghiệp và vôi công nghiệp vẫn diễn ra phổ biến. Sử dụng sai loại không chỉ làm giảm hiệu quả cải tạo môi trường mà còn tiềm ẩn rủi ro cho cây trồng, vật nuôi.

vôi nuôi tôm
• 00:00 23/02/2026

Ứng dụng chế phẩm sinh học trong phòng ngừa bệnh thủy sản

Một trong những giải pháp được đánh giá cao hiện nay là ứng dụng chế phẩm sinh học trong phòng ngừa bệnh cho tôm, cá. Đây không chỉ là hướng đi thay thế hóa chất truyền thống mà còn mở ra triển vọng phát triển bền vững cho ngành thủy sản Việt Nam.

chế phẩm sinh học thủy sản
• 00:00 21/02/2026

Bỏ túi bí quyết giảm hệ số FCR xuống dưới 1.2 mà không cần đổi loại thức ăn

Trong cơ cấu chi phí nuôi tôm và cá thâm canh, thức ăn thường chiếm 50–65% tổng chi phí sản xuất. Vì vậy, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) không chỉ là một chỉ số kỹ thuật mà còn là thước đo trực tiếp của hiệu quả kinh tế. Chênh lệch 0,1 FCR ở quy mô vài chục tấn có thể tạo ra khoảng cách lợi nhuận rất lớn.

tôm
• 10:00 14/02/2026

Chủ động phòng bệnh TiLV – bảo vệ đàn cá rô phi ngay từ đầu vụ

Tilapia Lake Virus (TiLV) đang được xem là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với ngành nuôi cá rô phi toàn cầu. Virus này có thể gây tỷ lệ chết lên tới 80–90%, lây lan nhanh và hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu.

cá rô phi
• 12:00 11/02/2026

Vietshrimp Asia 2026 & Aquaculture Vietnam 2026 – Kết nối toàn diện chuỗi giá trị, thúc đẩy tương lai ngành thủy sản bền vững

Năm 2025 đánh dấu một cột mốc quan trọng của ngành thủy sản Việt Nam, với tổng sản lượng đạt gần 10 triệu tấn và kim ngạch xuất khẩu khoảng 11,3 tỷ USD – mức cao nhất từ trước đến nay, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng bền vững giai đoạn 2026. Các sản phẩm chủ lực như tôm và cá tra tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt xuất khẩu, trong khi nuôi biển và đa dạng hóa đối tượng nuôi từng bước mở rộng nguồn cung và gia tăng giá trị chuỗi sản xuất.

• 19:07 23/02/2026

1.852 container tôm Indonesia quay lại thị trường Mỹ sau bê bối nhiễm phóng xạ

Sau nhiều tháng gián đoạn vì sự cố nhiễm chất phóng xạ trong một số lô hàng, xuất khẩu tôm của Indonesia sang Mỹ đã chính thức nối lại, với 1.852 container được thông quan trong giai đoạn từ cuối tháng 10/2025 đến đầu tháng 2/2026.

tôm đông lạnh
• 19:07 23/02/2026

Chuẩn hóa phương pháp xác định thủy ngân hữu cơ trong thủy sản

Việc ban hành Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 14443:2025 về xác định hàm lượng thủy ngân hữu cơ trong thủy sản không chỉ là một bước điều chỉnh kỹ thuật, mà phản ánh yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm trong bối cảnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam phụ thuộc lớn vào các thị trường khó tính.

cá
• 19:07 23/02/2026

Khác biệt giữa ao tôm lót bạt và ao nuôi tôm truyền thống: Nên chọn mô hình nào?

Trong bối cảnh dịch bệnh và ô nhiễm môi trường nuôi ngày càng gia tăng, mô hình ao tôm lót bạt đang dần thay thế ao đất truyền thống tại nhiều vùng nuôi trọng điểm. Tuy nhiên, việc lựa chọn không chỉ phụ thuộc vào xu hướng mà còn liên quan đến điều kiện kỹ thuật, vốn đầu tư và khả năng quản lý của người nuôi.

ao nuôi
• 19:07 23/02/2026

Những thực phẩm không nên ăn cùng hải sản để tránh rối loạn tiêu hóa

Hải sản giàu đạm, khoáng chất và vi lượng thiết yếu như kẽm, sắt, canxi… Tuy nhiên, không phải thực phẩm nào cũng phù hợp khi kết hợp cùng tôm, cua, cá, mực. Một số sự kết hợp tưởng như vô hại có thể gây khó tiêu, rối loạn tiêu hóa, thậm chí tăng nguy cơ ngộ độc nếu sử dụng không đúng cách.

hải sản
• 19:07 23/02/2026
Some text some message..