Theo thông tin từ thuyền trưởng Lý Anh Khiêm và ông Trần Hon - chủ tàu KTTS theo giấy phép số 2013pstN07813/N và 2013pstN07814/N do Bộ Biển và Nghề cá Indonesia cấp, là 2 trong 8 chiếc tàu được KTTS hợp pháp tại ngư trường Indo cho biết: Trước đây, tàu của ông thường sử dụng lưới có kích thước mắt lưới ở đụt là 2a = 20–25 mm, nhưng sau một chuyến biển đi đánh bắt tại ngư trường Indo, đội tàu này đã đồng loạt tăng kích thước mắt lưới ở đụt lưới từ 20 mm lên 40 mm, nhưng hiệu quả khai thác vẫn đảm bảo. Thời gian cho một chuyến biển đi khai thác tại ngư trường Indo từ 28–30 ngày, trong đó có 8 ngày di chuyển đi và về còn lại khoảng 20–22 ngày khai thác trên biển. Sản lượng khai thác trung bình trước khi thay đổi kích thước mắt lưới khoảng 90-100 tấn/cặptàu/chuyến và sau khi thay đổi kích thước mắt lưới là 80-100 tấn/cặptàu/chuyến. Nghĩa là tổng sản lượng khai thác của chuyến biển có giảm hơn so với trước,nhưng chủ yếu là giảm sản lượng cá tạp. Bù lại thì sản lượng các loài hải sản có giá trị kinh tế như: mực, cá bò da, cá bòvẩy, các loài cá hệ,… caohơn nhiều; kích thước mắt lưới lớn làm giảm sức cản trong nước khi kéo lưới nên chi phí nhiên liệu cũng giảm hơn; do sản lượng cá tạp ít nên các khâu thao tác, bảo quản sản phẩm trên tàu cũng thuận lợi và nhanh hơn so với trước đây. Chính vì vậy mà hiệu quả kinh tế chuyến biển vẫn đạt ở mức cao.
Theo nhận xét của ông Lý Anh Khiêm và ông Trần Hon, có sự khác biệt đáng kể về sản lượng cá tạp trước và sau khi thay đổi kích thước mắt lưới. Khi tàu của ông sử dụng mắt lưới ở đụt có kích thước 2a = 20 mm thì sản lượng cá tạp trong mỗi chuyến biển từ 30–40%, nhưng sau khi tăng kích thước mắt lưới ở đụt lưới lên 2a = 40 mm thì sản lượng cá tạp trong mỗi chuyến biển giảm còn 10 – 20%, bù lại thì sản lượng các loài cá có giá trị kinh tế cũng tăng lên đáng kể. Qua đó cho thấy, sử dụng lưới có kích thước mắt lưới ở phần đụt lớn sẽ làm giảm thiểu các sản phẩm khai thác không chủ ý (sản lượng cá tạp, đặc biệt là những loài cá còn nhỏ chưa đủ kích cỡ khai thác), tăng khả năng tái tạo nguồn lợi ngoài tự nhiên, góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản theo hướng bền vững.
Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp & PTNT, sản lượng khai thác cả nước tuy ở giới hạn cho phép (2,2 triệutấn/năm), song nguồn lợi hải sản đã có nhiều dấu hiệu bị tổn thương: cá nổi nhỏ đã khai thác vượt quá giới hạn 25 – 30%, việc này không những đã và đang làm mất dần khả năng tái tạo, phục hồi mật độ quần thể, mà còn ảnh hưởng đến nguồn lợi cá nổi lớn (do thiếu thức ăn); các loài hải sản tầng đáy cũng bị khai thác ở mức độ cao, vượt quá giới hạn cho phép từ 30 – 35%, trong đó có nhiều giống loài hải sản có vòng đời dài như: cá mú, cá sủ giấy, cá đỏ dạ lớn, cá hồng,…bị khai thác quá mức, dẫn đến nguy cơ bị tuyệt chủng; riêng cá nổi lớn mới khai thác khoảng 21–22% khả năng cho phép, tuy nhiên hiện nay đã và đang khai thác nhiều loài hải sản chưa trưởng thành. Sự suy giảm nguồn lợi thủy sản đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đánh bắt của các loại nghề. Tỷ lệ cá tạp trong các mẽ lưới ngày càng cao, chiếm 40-80% sản lượng đánh bắt tuỳ theo từng loại nghề (đặc biệt là nghề lưới kéo).
Đây là vấn đề mà ngành Nông nghiệp Kiên Giang và các nhà khoa học trong và ngoài nước rất quan tâm. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát triển khai thác thủy sản bền vững, đảm bảo cân bằng giữa các mặt kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái và đa dạng sinh học. Một trong những giải pháp quan trọng đã được nhiều quốc gia có biển trên thế giới ứng dụng đó là tăng kích thước mắt lưới ở bộ phận tập trung cá (đụt lưới) nhằm giảm đến mức thấp nhất khả năng đánh bắt các loài cá tạp (ngư dân còn gọi là cá phân) trong nghề lưới kéo, góp phần duy trì và bảo vệ nguồn lợi thủy sản đồng thời phát triển nghề khai thác thủy sản theo hướng bền vững. Đây cũng là một trong những mục tiêu phát triển của Bộ Nông nghiệp & PTNT về Chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm 2020./.