Bảo vệ môi trường trong nuôi tôm nước lợ: Cần cộng đồng trách nhiệm

Hiệu quả kinh tế mà nghề nuôi tôm nước lợ mang lại là rất lớn, nhưng những tác động của nó đến môi trường cũng không phải nhỏ, đặc biệt là nước thải tại các cụm ao nuôi. Giải quyết triệt để vấn đề này là một "bài toán" khó...

ha tang vung nuoi
Hoàn thiện hạ tầng vùng nuôi là giải pháp bảo vệ môi trường cũng như bảo đảm sự phát triển bền vững của nghề nuôi tôm nước lợ.

Người nuôi phớt lờ

Vùng nước lợ cạnh chợ xã Bình Châu (Bình Sơn) từng là cánh đồng nuôi tôm rất hiệu quả. Nhưng chỉ sau vài vụ nuôi, nước không còn “lợ” mà trở nên hôi thối, sẫm màu, khiến tôm nuôi đổ bệnh đồng loạt, chết phơi xác trước sự bất lực của chủ hồ. Nguyên do là hằng ngày, mỗi hécta nuôi tôm thải trực tiếp ra biển hàng nghìn mét khối nước thải và hơn 5 tấn chất thải các loại, trong đó phần lớn là các chất hữu cơ hòa tan.

Điều này đồng nghĩa với nguồn nước dẫn vào hồ nuôi tôm cũng chẳng còn “không màu, không mùi” như trước. Từ đó cánh đồng nuôi tôm này trở thành "hồ" chứa rác thải khổng lồ ven chợ. Nhiều năm nay, chính quyền xã Bình Châu cũng bất lực trong việc xử lý hoàn trả nguyên trạng môi trường cho khu vực này.

Đó là chuyện quá khứ, còn hiện tại, hầu hết các cụm hồ nuôi tôm trên địa bàn tỉnh cũng đang lặp lại "vết xe đổ" như ở xã Bình Châu. Điều này khiến dịch bệnh trên tôm nuôi liên tục xảy ra và không có dấu hiệu suy giảm. Chỉ trong 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh đã có đến 62/380ha tôm nuôi bị nhiễm bệnh.

Cho rằng thủ phạm gây bệnh cho tôm là nước biển bị ô nhiễm, nên người nuôi tôm đã không dẫn trực tiếp nguồn nước này vào hồ như trước, mà đầu tư đóng giếng cách bờ biển 5 – 15m. Song, theo đánh giá của ngành chuyên môn, sự "cải tiến" này sẽ gây ra những hiểm họa khôn lường về môi trường cho tương lai.

Chính quyền bảo khó

Bảo vệ môi trường trong nuôi tôm nước lợ không dừng lại ở việc xử lý nước thải, chất thải mà nó phải được thực hiện trong suốt quá trình nuôi. Theo lý giải của ông Võ Anh Tuấn - Quản lý kỹ thuật Công ty TNHH MTV SXTM&DV Quảng Ngãi thì, ngoài vỏ tôm, cặn thức ăn, nước thải, chất thải trong nuôi tôm phần lớn là các chất hữu cơ hòa tan.

Điều này có nghĩa, “chất lượng” nước thải phụ thuộc rất lớn vào mật độ có mặt của những chất này, đặc biệt là các chất hữu cơ hòa tan vốn là nguyên nhân khiến vi sinh vật gây bệnh phát triển quá mức. Song, với cách nuôi “ao đất, dùng hóa chất BKC suốt quá trình nuôi, xả thải liên tục” như hiện nay thì hàm lượng chất hữu cơ hòa tan có trong nước thải ngày càng đậm đặc, mức độ ô nhiễm môi trường vì thế cũng gia tăng. 

Khác với kiểu nuôi tôm “ăn xổi” như thế, hai năm trở lại đây, Công ty TNHH MTV SXTM&DV Quảng Ngãi tiên phong ứng dụng công nghệ sinh học trong quá trình nuôi tôm cũng như xử lý nước thải. Cùng với việc hoàn thiện hạ tầng, bê tông toàn bộ 5,4ha hồ nuôi, xử lý nước đáy hồ bằng men vi sinh, thay vì hóa chất BKC, đơn vị này còn đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải theo mô hình “lọc dần” gồm 4 hồ chứa với diện tích 1ha. Tuy vẫn sử dụng nước bề mặt biển với độ mặn 30 – 32 phần nghìn trong suốt quá trình nuôi tôm, nhưng kết quả tôm phát triển khá tốt, trọng lượng đạt đến 40 con/kg.  

Theo Chi cục Thủy sản, hướng sản xuất của Công ty TNHH MTV SXTM&DV Quảng Ngãi thật sự hiệu quả, lại đảm bảo an toàn môi trường. Song, để áp dụng cho các cụm hồ nuôi tôm trên địa bàn tỉnh là điều không dễ. Bởi nếu xây dựng bể lắng hoặc hồ xử lý nước thải, chủ hồ phải “chia sẻ” một phần diện tích đất; mà điều này thì phần lớn chủ hồ đều không chấp nhận, vì quỹ đất nuôi tôm eo hẹp. Hơn nữa, ứng dụng công nghệ sinh học vào nuôi tôm và xử lý nước thải cần nguồn vốn đầu tư hạ tầng lớn, kỹ thuật sản xuất cao, trong khi phần lớn người nuôi tôm trong tỉnh nuôi theo kiểu “được chăng hay chớ”, nên không mạnh dạn đầu tư.

Ngoài ra, dù các chủ hồ đã cam kết bảo vệ môi trường trong quá trình nuôi tôm, nhưng thực tế ngành chuyên môn rất khó kiểm soát được vấn đề này. Lý do muôn thuở vẫn là nguồn lực hạn hẹp, việc sản xuất thì manh mún và nhỏ lẻ; rồi không có chế tài ràng buộc đối với các chủ hồ khi mà họ liên tục thay đổi địa điểm nuôi tôm. Vì vậy, việc xử lý cũng chỉ ở mức “giơ cao đánh khẽ”, chưa đủ sức răn đe đối với những chủ hồ cố tình vi phạm.

Để nghề nuôi tôm nước lợ an toàn, thân thiện với môi trường, mang lại hiệu quả cao và bền vững cần thiết phải đầu  tư hoàn thiện hạ tầng và hệ thống ao nuôi theo đúng quy chuẩn. Muốn làm được điều này phải có sự vào cuộc đồng bộ và quyết liệt của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và nông dân. 

“Cần sớm đầu tư hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi tôm”

Nuôi tôm nước lợ của người dân ở ven biển ngày càng khó khăn do môi trường nước bị ô nhiễm. Vì vậy, tôi mong Nhà nước quan tâm đầu tư hệ thống thủy lợi, đảm bảo nhu cầu về nguồn nước phục vụ nuôi tôm trong vùng quy hoạch. Ngoài ra, các ngành chức năng cũng cần quan tâm, hướng dẫn kỹ thuật, kiểm tra chất lượng môi trường nước, nhằm thông tin kịp thời cho người nuôi tôm chúng tôi có biện pháp khắc phục và xử lý kịp thời. Ông LÊ TẤN CHỜ - nông dân thôn Vĩnh Trà, xã Bình Thạnh (Bình Sơn).

Phải nghiên cứu, đánh giá kỹ môi trường nuôi tôm nước lợ

ba dong

Bà Đỗ Thị Thu Đông

Đó là ý kiến của bà Đỗ Thị Thu Đông- Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản trước thực trạng nuôi tôm nước lợ trên địa bàn tỉnh hiện nay.

PV: Nguyên tắc và ưu điểm của phương pháp sinh học trong xử lý nước thải tại các cụm ao nuôi tôm là gì, thưa bà?

Bà ĐỖ THỊ THU ĐÔNG: Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học đang nhận được sự quan tâm của nhiều người vì chi phí thấp, thân thiện với môi trường mà hiệu quả cao. Nguyên tắc của phương pháp này là dựa trên hoạt động của các vi sinh vật có lợi để phân hủy các chất hữu cơ hòa tan có trong nước thải (protein, lipid, glucid), các chất vô cơ (sunfit, amonnia...) tạo ra trong quá trình nuôi tôm. Ngoài ra, phương pháp sinh học còn kiểm soát sự phát triển quá mức của vi sinh vật gây bệnh nên môi trường luôn được giữ ở trạng thái cân bằng sinh học. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ áp dụng cho hồ cỡ nhỏ của các hộ riêng lẻ, khó có thể áp dụng cho các cụm hạ tầng vùng nuôi không đảm bảo. Hơn nữa, phương pháp sinh học cũng chưa có quy trình cụ thể, nên rất khó cho người dân khi áp dụng.

PV: Vậy đối với khu vực nuôi tôm nước lợ trong tỉnh, Chi cục Thủy sản đã có giải pháp gì để  hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường?

Bà ĐỖ THỊ THU ĐÔNG: Việc nuôi tôm nước lợ trên địa bàn tỉnh phần lớn do người dân tự phát, nên họ chỉ quan tâm đến “sức khỏe” con tôm, còn những vấn đề khác thì họ không bận tâm. Thậm chí, nhiều hộ còn cho rằng, biển lớn nên nước thải nuôi tôm xả ra cũng chẳng đáng là bao. Đây chính là nguyên nhân khiến hầu hết các vùng nuôi tôm nước lợ trên địa bàn tỉnh đều bị ô nhiễm với mức độ khác nhau. Khắc phục tình trạng này, tôi nghĩ các chủ hồ tôm có thể xây dựng các bể lọc nước thải theo nguyên tắc thấm rút qua cát để loại bỏ một phần chất thải. Cách này dễ vận hành và quản lý, lại ít tốn kém, có thể áp dụng cho từng hộ dân ở các cụm ao nuôi. Nhưng đây cũng chỉ là giải pháp tạm thời, về lâu dài, môi trường nuôi tôm nước lợ cần được nghiên cứu, đánh giá cụ thể để có những giải pháp xử lý hữu hiệu. 

ong Tho

“Xử lý kỹ ao hồ trước khi nuôi”

Bình Sơn có 110ha nằm trong vùng quy hoạch nuôi tôm nước lợ, tập trung ở các xã Bình Châu, Bình Chánh. Thời gian gần đây, tình trạng ô nhiễm vùng nuôi tôm ngày càng nặng, dẫn đến tôm chết hàng loạt, nên đến nay chỉ còn thả nuôi 95ha. Trước tình hình trên, UBND huyện đã có quyết định tiêu hủy toàn bộ số tôm bị dịch bệnh và thực hiện hỗ trợ cho các hộ dân. Đồng thời, chỉ đạo cho các địa phương và cơ quan chuyên môn rà soát hộ nuôi, khử trùng xử lý ao hồ và kiểm tra đủ điều kiện mới cho tiến hành thả nuôi tôm vụ hai. Riêng một số diện tích không an toàn thì khuyến khích người dân nuôi tôm kết hợp các loại cá, cua...   Ông LÝ THỌ - Phó Chủ tịch UBND huyện Bình Sơn.

Báo Quảng Ngãi, 10/07/2016
Đăng ngày 14/07/2016
Bài, ảnh: MỸ HOA
Nuôi trồng

FLOCponics: Sự tích hợp hoàn hảo của công nghệ biofloc và cây thủy canh

FLOCponics là một loại Aquaponics thay thế tích hợp công nghệ biofloc (BFT) với sản xuất cây trồng không sử dụng đất.

flocponics
• 15:51 07/03/2022

Mô hình nuôi ba ba lãi 300 triệu đồng/năm

Mô hình nuôi ba ba của ông Lương Thành Kỷ, ở thị trấn Búng Tàu, huyện Phụng Hiệp. Qua 14 năm phát triển, đến nay đàn ba ba sinh sản của ông Kỷ đã phát triển hơn 1.500 con, mỗi năm xuất bán ra thị trường từ 8.000-10.000 con giống, trừ hết các khoản chi phí, lợi nhuận gần 300 triệu đồng/năm.

Ba ba.
• 09:38 14/06/2021

Kinh tế ổn định nhờ nuôi ba ba sinh sản

Hơn 20 năm nuôi ba ba sinh sản, anh Nguyễn Đức Lợi, ấp Phước Thọ B, xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng có cuộc sống khấm khá. Gắn bó lâu năm với con ba ba một phần cũng vì sự yêu thích loài vật này, ba ba lại dễ nuôi, nhẹ công chăm sóc, thị trường tiêu thụ tốt, đem lại nguồn thu nhập ổn định cho gia đình anh.

• 15:40 03/03/2021

Thu trăm triệu đồng mỗi năm từ nuôi ba ba

Nuôi ba ba gai là một công việc đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn và kỹ thuật cao. Nhưng bằng ý chí, nghị lực, sự đam mê tận tụy với công việc cùng với áp dụng các kiến thức khoa học kỹ thuật mà ông Phạm Tất Đạt ở xã Yên Bình, thành phố Tam Điệp đã thành công, vươn lên trở thành triệu phú.

kỹ thuật sản xuất giống baba
• 10:00 30/05/2017

Vì sao tôm cần ánh sáng nhưng lại sợ nắng gắt trong ao nuôi thâm canh?

Trong quản lý ao nuôi, ánh sáng là yếu tố kép tác động trực tiếp đến sự phát triển của tảo và chu kỳ sinh lý của tôm.

Tôm thẻ
• 11:46 29/01/2026

Hướng xử lý khi tôm chết rải rác cuối vụ

Ở giai đoạn tiền thu hoạch, nhiều ao nuôi không bùng bệnh nhưng vẫn xuất hiện hiện tượng tôm chết rải rác từng ngày. Đây thường không xuất phát từ mầm bệnh, mà là dấu hiệu cho thấy ao nuôi và đàn tôm đã bắt đầu đuối sức sau một thời gian dài chịu tải.

Tôm thẻ
• 12:16 28/01/2026

Biện pháp đảm bảo an toàn cho ao nuôi tôm trong dịp Tết Nguyên Đán

Dịp Tết Nguyên Đán luôn là thời điểm nhạy cảm và đầy thách thức đối với ngành nuôi trồng thủy sản. Đây là lúc các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật, chuỗi cung ứng vật tư đều tạm ngưng hoạt động, trong khi nhân sự vận hành thường có tâm lý lơ là.

Thu tôm
• 11:09 27/01/2026

Nuôi tôm càng đo nhiều chỉ số càng rối

Đối với người nuôi tôm, mải mê chạy theo các con số trên máy đôi khi lại là sai lầm chết người khiến ao nuôi sụp đổ. Vấn đề nằm ở cách người nuôi hiểu những con số này đến đâu chứ không phải ở số lượng con số đo được.

Chỉ số ao tôm
• 11:01 26/01/2026

Những thông số bắt buộc phải biết trên nhãn mác thủy sản đóng gói

Trong chuỗi cung ứng thực phẩm hiện đại, nhãn mác trên bao bì thủy sản đã trở thành một hệ thống dữ liệu kỹ thuật phức tạp thay vì những dòng mô tả cơ bản.

Tôm thẻ
• 16:00 29/01/2026

Mẹo chọn hải sản tươi khi đi chợ: Nhìn đúng để mua không bị hớ

Việc lựa chọn hải sản tươi ngon là bước đầu tiên và quan trọng để có một bữa ăn hấp dẫn, giàu dinh dưỡng. Chỉ cần quan sát và kiểm tra vài chi tiết nhỏ, người mua hoàn toàn có thể phân biệt được đâu là hải sản tươi, đâu là hàng kém chất lượng. Dưới đây là những dấu hiệu cơ bản, dễ áp dụng khi chọn tôm, cua, và cá.

Tôm thẻ
• 16:00 29/01/2026

Nuôi ghép tôm và rong nho

Mô hình nuôi ghép tôm thẻ chân trắng và rong nho là phương thức canh tác kết hợp hai đối tượng nuôi trên cùng một diện tích mặt nước hoặc trong hệ thống tuần hoàn.

Tôm thẻ
• 16:00 29/01/2026

Kỹ thuật vận chuyển và thả tôm giống trong điều kiện rét đậm đầu năm 2026

Những đợt rét đậm đầu năm 2026 trực tiếp ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của tôm giống trong khâu vận chuyển và thả nuôi. Để đảm bảo sức khỏe đàn tôm, người nuôi cần tuân thủ nghiêm ngặt các thông số về nhiệt độ, mật độ đóng gói và quy trình thuần hóa môi trường trước khi bắt đầu vụ nuôi.

Tôm thẻ giống
• 16:00 29/01/2026

Thủy sản Việt Nam giữ vững top 3 nguồn cung lớn nhất tại Singapore

Năm 2025 khép lại với tin vui từ đảo quốc sư tử khi kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt mức tăng trưởng hai con số, vượt mốc 125 triệu SGD. Kết quả này giúp Việt Nam bảo vệ thành công vị trí top 3 nhà cung cấp lớn nhất, khẳng định vị thế vững chắc trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của các đối thủ sừng sỏ.

Tôm đông lạnh
• 16:00 29/01/2026
Some text some message..