Chế phẩm probiotic cải thiện môi trường nuôi tôm

Sử dụng chế phẩm sinh học trong xử lý môi trường nuôi tôm luôn là vấn đề tranh cãi: có ích, có hại hay “vô thưởng vô phạt”. Tuy nhiên, các vấn đề sẽ rõ ràng hơn khi chúng ta xem xét một số các yếu tố có thể tác động đến nhóm sản phẩm này.

Chế phẩm probiotic cải thiện môi trường nuôi tôm
Hiểu về probiotic giúp sử dụng đúng cách và đạt hiệu quả cao trong nuôi tôm. Ảnh: Internet

Môi trường

Sản phẩm probiotic bổ sung vào ao nuôi tôm chủ yếu chứa vi khuẩn dị dưỡng, là loài vi khuẩn đòi hỏi một phần hoặc toàn bộ nguồn dinh dưỡng từ nguồn vật chất hữu cơ có sẵn. Vi khuẩn dị dưỡng sử dụng nguồn C (carbon)  từ carbohydrate (đường, tinh bột, cellulose...) và nguồn N (nitơ) từ thức ăn dư thừa, chất thải tôm, bùn bã hữu cơ. Một số vi khuẩn dị dưỡng có thể sử dụng amoniac trực tiếp như nguồn đạm để đáp ứng cho nhu cầu phát triển.

Để vi khuẩn dị dưỡng phát triển, tỷ lệ giữa carbon hữu cơ và nitơ hữu cơ (tỷ lệ phân giải chất hữu cơ, C: N) cần đạt từ 12:1 trở lên, tỷ lệ tối ưu là 20:1. Thức ăn tôm 35% đạm, có tỷ lệ C:N = 9:1, ở tỷ lệ phân giải chất hữu cơ thấp như thế này vi khuẩn dị dưỡng sẽ phát triển chậm. Để tỷ lệ C:N trong môi trường tăng lên đáp ứng điều kiện cho vi khuẩn dị dưỡng phát triển mạnh có thể thực hiện bằng 2 cách là giảm lượng protein thức ăn hoặc tăng lượng carbohydrate. Tuy nhiên, thức ăn tôm yêu cầu tối thiểu là 35% đạm, nên việc giảm tỷ lệ đạm là không khuyến cáo; do đó, tăng carbohydrate là ưu tiên chọn lựa và phương pháp sử dụng mật đường để bổ sung thức ăn hoặc bón thẳng vào môi trường ao nuôi thường được ưu tiên sử dụng. Sử dụng mật  đường vào ao nuôi làm tăng tỷ lệ C:N, sẽ cho phép các quần thể vi khuẩn dị dưỡng tăng sinh nhanh chóng và qua đó tiêu thụ một lượng cao các protein trong các chất hữu cơ dư thừa trong ao, tăng chuyển hóa amoniac, từ đó môi trường nuôi tôm được cải thiện.

Do vi khuẩn dị dưỡng trong ao nuôi bao gồm cả vi khuẩn có lợi (lợi khuẩn) và vi khuẩn gây bệnh, vì vậy, khi bổ sung carbohydrate vào ao để tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển, người sử dụng cần biết là vi khuẩn nào đang chiếm ưu thế. Nhưng việc này không phải là điều dễ dàng, vì nó chỉ có thể được thực hiện bởi các phòng thí nghiệm chuyên sâu về sinh học và với chi phí cao. Do đó, giải pháp dễ thực hiện là bổ sung carbohydrate cùng lúc các chủng vi sinh vật hữu ích đã được xác định trong chế phẩm probiotic. Ngoài ra, khi vi khuẩn dị dưỡng tăng sinh khối sẽ làm tiêu hao ôxy trong nước, sản sinh nhiều CO2 và giảm pH môi trường; do vậy, khi sử dụng sản phẩm probiotic cần xác định nguồn ôxy hòa tan trong ao có dồi dào hay không và ao phải có nhiều chất hữu cơ lơ lửng đủ để vi sinh vật dị dưỡng phát triển.

Lợi khuẩn trong sản phẩm probiotic

Bacillus là vi khuẩn tốt nhất để sử dụng làm chế phẩm probiotic vì nó sản xuất một loạt các enzyme ngoại bào (amylase, protease, cellulose) giúp phân hủy bùn bã hữu cơ, tiết kháng sinh sinh học (bacteriocins) diệt vi khuẩn gây bệnh và ưu điểm lớn nhất là tồn tại trong sản phẩm dưới dạng bào tử nên duy trì được khả năng sống tốt, bảo đảm được tác dụng sau một thời gian bảo quản lâu dài. Các loài Bacillus phổ biến trong sản phẩm probiotic là B. subtilis, B. megaterium, B. lichenniformis.

Các loài Lactobacillus như L.acidophilus L.delbruckii, L.bulgaricus cũng được sử dụng phổ biến trong các chế phẩm probiotic và dùng phổ biến qua đường thức ăn do tác động acid hóa đường ruột, ức chế vi khuẩn gây bệnh phát triển trong đường ruột.

Các loài nấm men như Saccharomyces cerevisiae, S.boulardii cũng được sử dụng qua đường thức ăn do khả năng kích thích phát triển hệ miễn dịch và kích thích phát triển đường ruột tôm.

Nói chung, Bacillus Lactobacillus là các vi khuẩn dị dưỡng chủ yếu trong các sản phẩm probiotic dùng xử lý môi trường trong nuôi tôm. Để vi khuẩn dị dưỡng phát triển cần duy trì tỷ lệ C: N > 12:1; đồng thời, cung cấp đầy đủ ôxy cho ao nuôi cho sự phát triển của vi khuẩn và cả tôm nuôi trong ao.

Sử dụng probiotic

Sự phát triển của lợi khuẩn trong probiotic khi bón vào ao nuôi phụ thuộc vào mức độ các vi khuẩn bản địa đang chiếm ưu thế trong ao, do vậy, trong nhiều trường hợp probiotic không phát huy hiệu quả do lượng lợi khuẩn đưa vào không đủ áp đảo lượng vi khuẩn có hại trong ao nuôi. Trường hợp này lợi khuẩn cạnh tranh kém với vi sinh vật bản địa, không phát triển và nhanh chóng bị lụi tàn.

Sự phát triển của lợi khuẩn trên chất nền rất khác nhau, tùy thuộc vào bản chất của hệ thống nuôi (ao đất, lót bạt…), bản chất nước (nhiệt độ, độ mặn, pH, độ trong…). Ngoài ra, đối tượng, mật độ nuôi và bản chất của thức ăn cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của lợi khuẩn có trong probiotic. Theo đó, trong nhiều trường hợp probiotic không đem lại hiệu quả như mong đợi của người sử dụng.

Tất cả những đặc điểm vừa nêu là một khó khăn cho người nuôi tôm và cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều ý kiến khác nhau trong sử dụng probiotic. Do vậy, cách tốt nhất là sử dụng sản phẩm ngay từ đầu vụ, ngay khi ao tôm được cấp nước và trước khi thả giống để tạo ưu thế cạnh tranh. Sau đó, cung cấp probiotic mỗi  tuần 1 lần để bảo đảm duy trì sự lấn áp của lợi khuẩn trong môi trường. Ngoài ra, cần chọn sản phẩm probiotic có nhiều loài lợi khuẩn để có thể phân hủy một hỗn hợp gồm thức ăn dư thừa, chất thải tôm, xác động thực vật thủy sinh phân hủy trong môi trường ao nuôi.

Khi bổ sung probiotic vào ao nuôi nên kết hợp bón thêm mật đường với tỷ lệ 0,5 kg mật đường/1 kg thức ăn sử dụng. Đồng thời, mở hệ thống quạt hay máy sục khí để bảo đảm đủ lượng ôxy cho vi khuẩn dị dưỡng phát triển. Tuy nhiên, cần chú ý là khi bón đường vào ao sẽ dẫn đến tiêu thụ ôxy nhiều vào ban đêm và sự phát triển mạnh của tảo nên cần có biện pháp kiểm soát phù hợp.

Lựa chọn sản phẩm

Sản phẩm Probiotic phát huy hiệu quả cao khi có các chỉ tiêu:

- Mật độ lợi khuẩn: Cần tính toán liều sử dụng để vi khuẩn hữu ích phải đạt ít nhất 1.000 vi khuẩn/ml nước môi trường nuôi (103 CFU/ml nước ao); do vậy, tùy theo mật độ lợi khuẩn trong chế phẩm mà tính toán số lượng chế phẩm cần thiết sử dụng. Trong một số sản phẩm, do hàm lượng thấp nên nhà sản xuất khuyến cáo phải ủ sản phẩm trước khi sử dụng nhằm gia tăng mật số vi khuẩn.

- Độ sống: Các chủng Bacillus có khả năng hình thành bào tử, nên hầu như bảo đảm phục hồi hoạt động khi đưa vào môi trường sau thời gian sản xuất và lưu hành theo hạn sử dụng. Tuy nhiên, hầu hết các chủng lợi khuẩn khác trong sản phẩm probiotic không tạo bào tử nên mật độ bị sụt giảm đáng kể sau thời gian lưu thông phân phối trên thị trường, thậm chí bị phá hủy hoàn toàn nên không còn hiệu quả. Hiện nay, một số nhà sản xuất nghiên cứu phát triển công nghệ vi bao nhằm kéo dài thời gian bảo quản của sản phẩm, nhưng do giá thành cao nên hầu hết công nghệ này được áp dụng cho sản phẩm dùng cho con người.

- Sự thích nghi: Trong nhiều trường hợp, các lợi khuẩn trong probiotic không thích nghi trong môi trường bản địa, cho nên dù sản phẩm được chứng minh là ưu việt tại quốc gia đã sản xuất ra chúng nhưng lại kém phát triển chậm hoặc chết ngay khi đưa vào môi trường ao tôm nuôi tại Việt Nam, không tạo được tác dụng như mong muốn. Do đó, chọn sản phẩm probiotic được sản xuất từ các lợi khuẩn bản địa, phân lập từ môi trường ao tôm và ruột tôm nuôi tại Việt Nam nên là ưu tiên lựa chọn của người nuôi.

TSVN
Đăng ngày 22/09/2017
ThS. Nguyễn Ngọc Phú Vinh - Trung tâm R&D Vemedim

Mối liên quan của pH và NO2 trong ao nuôi tôm

Khí độc NO2 hình thành do sên vét, cải tạo ao ban đầu trước vụ nuôi thực hiện kém hiệu quả. Không loại được triệt để lượng bùn cũ trong ao, để bùn tồn số lượng nhiều. Nguồn nước giàu phù sa, chất lơ lửng, lợn cơn…không qua hệ thống ao lắng lọc, vào trực tiếp ao nuôi, là nguyên nhân hình thành khí độc NO2.

Tôm
• 14:19 12/06/2024

Diệt rong đá trong ao nuôi quảng canh

Ở ao nuôi tôm quảng canh, diện tích ao rất lớn với rất nhiều loài nuôi kết hợp cùng với tôm như cá, cua,... Việc quản lý và kiểm soát chất lượng môi trường nước ao nuôi cũng rất hạn chế, vì vậy một số loài rong thường sinh sản và phát triển gây ra khó khăn cho tôm được nuôi. Hôm nay chúng ta sẽ kể một số cách diệt rong, đặc biệt là rong đá, loài rong luôn xuất hiện trong ao nuôi tôm quảng canh trước nay.

Rong vuông tôm
• 09:54 11/06/2024

Giảm chi phí nuôi khi sử dụng máy cho tôm ăn tự động

Tối ưu hóa các chi phí trong quá trình nuôi tôm sẽ giúp người nuôi đạt được khoản lợi nhuận tối đa nhất có thể. Trong đó, chi phí thức ăn luôn chiếm hơn 50% tổng chi phí cả vụ, vì vậy việc thiết lập chu kỳ và lượng thức ăn cho mỗi ngày sao cho hợp lý là vấn đề đáng quan tâm nhất của bà con.

Máy cho tôm ăn tự động
• 09:00 09/06/2024

Sự tương tác giữa các yếu tố môi trường và độc lực vi khuẩn Aeromonas Hydrophila

Gần đây, một bài báo mới mô tả sự tác động phức tạp giữa vi khuẩn Aeromonas hydrophila và môi trường trong nuôi trồng thủy sản. Điều này hy vọng rằng sẽ cho phép các bên liên quan phát triển các chiến lược phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải cải thiện các biện pháp quản lý và các giải pháp đổi mới để giảm thiểu tác động của các mầm bệnh này đối với ngành nuôi trồng thủy sản.

Nuôi trồng thủy sản
• 10:25 07/06/2024

Những phát hiện gần đây về nhiễm EHP ở tôm

Đánh giá này trình bày chi tiết những phát hiện gần đây liên quan đến nhiễm EHP ở các trang trại nuôi tôm, bao gồm ảnh hưởng của nó đến hệ miễn dịch, tiêu hóa, trao đổi chất, sinh lý và tăng trưởng của tôm.

Tôm bệnh
• 16:45 15/06/2024

Sử dụng hỗn hợp prebiotic trong Thủy sản: Kháng bệnh và miễn dịch

Hỗn hợp prebiotic, sự kết hợp β-glucan và MOS đã được báo cáo rộng rãi trong nhiều nghiên cứu rằng nó có thể làm tăng khả năng kháng bệnh của nhiều loại động vật thủy sản.

Cá nuôi
• 16:45 15/06/2024

Sử dụng hỗn hợp prebiotic trong Thủy sản: Sức khỏe và Tăng trưởng

Việc áp dụng prebiotic làm phụ gia thức ăn là một trong những cách khắc phục tình trạng lạm dụng kháng sinh trong quản lý sức khỏe loài thủy sản (Kari và cộng sự, 2021; Song và cộng sự, 2014; Zulhisyam và cộng sự, 2020).

Cá nuôi
• 16:45 15/06/2024

Cơ hội xuất khẩu thủy sản năm 2024 - 2025

Ngành thủy sản Việt Nam là ngành mới nổi với số lượng rất lớn và đóng góp đáng kể cho nền kinh tế đất nước, đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu hàng năm. Năm 2022, khối lượng xuất khẩu thủy sản đạt 11 tỷ USD là cột mốc quan trọng; chúng tôi đặt mục tiêu 10 tỷ USD vào năm 2024 và 12 tỷ USD vào năm 2030. Để đạt được mục tiêu này, ngành thủy sản cần một chiến lược dài hạn toàn diện và sự hỗ trợ rộng rãi từ mọi phía để giúp họ đảm bảo những gì họ muốn đạt được trong giai đoạn giữa 2024 và 2025.

Cá
• 16:45 15/06/2024

Tập huấn kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm thẻ chân trắng ứng dụng công nghệ Semi-Biofloc

Ngày 06.6, tại xã Cát Minh (huyện Phù Cát) và xã Mỹ Thành (huyện Phù Mỹ), Trung tâm Khuyến nông Bình Định phối hợp với Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp các huyện Phù Cát và Phù Mỹ tổ chức 02 lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm thẻ chân trắng bán thâm canh – thâm canh hai giai đoạn ứng dụng công nghệ Semi-Biofloc cho 40 hộ nuôi tôm trên địa bàn các xã Cát Minh và Mỹ Thành.

Tập huấn
• 16:45 15/06/2024
Some text some message..