Danh mục

Tin tức

Giá cả

eShop

Việc làm

Học tập

Kết nối

Farmext

cá dĩa sinh sản

Sinh sản cá dĩa ở trại cá cảnh TP.HCM. Ảnh Tepbac

Công nghiệp cá cảnh Việt Nam nhìn từ những vùng sản xuất

06:03 12/09/2026 Kim Tiền 11 phút đọc

Nhắc đến nuôi thủy sản Việt Nam, người ta thường nghĩ đến những vùng tôm rộng hàng chục nghìn hecta hay những ao cá tra trải dài theo sông Tiền, sông Hậu. Cá cảnh lại tạo nên một bản đồ hoàn toàn khác. Diện tích không lớn, sản lượng tính bằng con thay vì tấn, nhưng phía sau những hồ cá nhỏ là cả một mạng lưới từ sản xuất giống, lai tạo, nuôi thương phẩm đến tuyển chọn, đóng gói, vận chuyển và xuất khẩu.

Từ những làng cá lâu đời ở miền Bắc đến các trang trại hàng chục hecta quanh TP.HCM, ngành cá cảnh Việt Nam đang hình thành những vùng sản xuất khá rõ nét. Mỗi nơi phát triển theo một cách khác nhau, tùy vào quỹ đất, thị trường và kinh nghiệm của người nuôi.

TP.HCM - trung tâm lớn nhất của ngành cá cảnh

TP.HCM hiện vẫn là nơi thể hiện rõ nhất dáng dấp của một ngành công nghiệp cá cảnh hoàn chỉnh.

Năm 2010, sản lượng cá cảnh của thành phố vào khoảng 60 triệu con. Đến năm 2019 đã tăng lên khoảng 205 triệu con. Sau thời gian suy giảm trong giai đoạn dịch COVID-19, sản lượng phục hồi lên gần 120 triệu con vào năm 2024.

Phía sau con số này là khoảng 90 ha sản xuất với gần 300 cơ sở và hộ nuôi, tập trung nhiều ở Bình Chánh và Củ Chi. Các vùng ngoại thành có quỹ đất lớn đảm nhận phần sinh sản, ương giống và nuôi số lượng lớn; những cơ sở gần khu vực đô thị thường thiên về cá giá trị cao, kinh doanh và phân phối.

Một phần đáng kể sản lượng được đưa vào chuỗi xuất khẩu. Năm 2020, thành phố xuất khoảng 16,4 triệu con, thu hơn 17 triệu USD. Trong 10 tháng đầu năm 2025, lượng xuất khẩu đạt 11,39 triệu con, mang về 12,89 triệu USD. Cá cảnh từ TP.HCM đã có mặt tại hơn 50 quốc gia, với châu Âu là một trong những thị trường lớn nhất.

Cơ cấu sản phẩm cũng khá đa dạng, từ cá dĩa, cá ông tiên, neon, bảy màu đến Koi và nhiều dòng cá nhiệt đới. Khác với thủy sản thực phẩm, giá trị của cá cảnh không phụ thuộc nhiều vào trọng lượng. Hai con cá cùng kích thước có thể có giá hoàn toàn khác nhau chỉ vì màu sắc, hoa văn, độ thuần giống hay độ hiếm.

Chính đặc điểm này khiến một vùng nuôi chỉ vài chục hecta vẫn có thể hình thành một ngành hàng xuất khẩu trị giá hàng chục triệu USD.

Đến năm 2030, TP.HCM đặt mục tiêu khoảng 300 triệu con cá cảnh mỗi năm và hướng đến kim ngạch xuất khẩu 100 triệu USD. Quy mô sản xuất vì thế không chỉ mở rộng về số lượng mà đang dịch dần sang các dòng cá có giá trị cao, kiểm soát giống tốt hơn và đáp ứng các yêu cầu ngày càng chặt của thị trường nhập khẩu.

Các hũ nhựa chứa cá betta cảnh xếp trên kệ có dán nhãn giá 30.000 và 50.000 đồng.
Cá xiêm (betta) cảnh bày bán trong các hũ nhựa trên kệ. Ảnh Tepbac

Từ TP.HCM, vùng sản xuất bắt đầu lan ra các tỉnh lân cận

Quá trình đô thị hóa khiến đất dành cho những ao nuôi lớn trong thành phố ngày càng hạn chế. Một phần sản xuất vì thế đang dịch chuyển ra Đồng Nai, Long An, Tiền Giang và xa hơn xuống Đồng bằng sông Cửu Long.

Đây là sự dịch chuyển khá tự nhiên. Các tỉnh xung quanh có quỹ đất rộng hơn, nguồn nước thuận lợi và vốn đã có kinh nghiệm sản xuất giống thủy sản.

Tại Đồng Nai, khu vực Trảng Bom từ lâu được biết đến như một vùng sản xuất cá giống của Đông Nam Bộ. Từ nền tảng này, một số cơ sở chuyển sang các giống cá cảnh có giá trị cao, từ cá rồng đến những dòng cá phục vụ thị trường hồ cảnh và thủy sinh.

Tiền Giang cũng là một vùng cá cảnh hình thành khá sớm. Riêng TP. Mỹ Tho từng có khoảng 51 hộ sản xuất trên 23.000 m², cung cấp 2-3 triệu con mỗi năm. Những cơ sở nuôi cá dĩa, cá ba đuôi, cá phượng hoàng hay cá lia thia phát triển xen lẫn với hệ thống sản xuất giống thủy sản truyền thống.

Quy mô chưa thể so với TP.HCM, nhưng các vùng này có một lợi thế mà thành phố ngày càng thiếu: diện tích.

Vì vậy, nếu nhìn rộng ra toàn vùng phía Nam, ngành cá cảnh đang dần hình thành mô hình liên kết tự nhiên. TP.HCM tập trung doanh nghiệp, thị trường, kỹ thuật, đóng gói và xuất khẩu; các tỉnh xung quanh cung cấp diện tích cho khâu sinh sản, ương dưỡng và sản xuất với số lượng lớn.

Đây cũng là cách nhiều ngành nông nghiệp đô thị phát triển khi thành phố mở rộng: sản xuất dịch chuyển ra ngoài, trong khi trung tâm thương mại và công nghệ vẫn được giữ lại.

Miền Tây có tiềm năng sản xuất nhưng chưa hình thành đầu mối lớn

Đi sâu xuống Đồng bằng sông Cửu Long, cá cảnh xuất hiện khá rộng nhưng chưa hình thành những vùng tập trung lớn tương đương TP.HCM.

Điều kiện tự nhiên của miền Tây gần như không phải trở ngại. Người dân vốn có kinh nghiệm ương giống, quản lý nước và nuôi nhiều loài cá nước ngọt. Một hộ nuôi cá cảnh vì vậy có thể bắt đầu từ vài bể xi măng hoặc cải tạo một phần ao sẵn có.

Khó khăn nằm nhiều hơn ở phía sau ao nuôi.

Cá sản xuất tại Tiền Giang hay các tỉnh miền Tây thường phải qua thương lái hoặc doanh nghiệp tại TP.HCM trước khi tiếp tục đi ra thị trường lớn. Những cơ sở nhỏ ít có khả năng tự tổ chức kiểm dịch, đóng gói và xuất khẩu bằng đường hàng không.

Miền Tây vì thế hiện giống một vùng nguyên liệu tiềm năng hơn là một trung tâm cá cảnh độc lập.

Nếu mạng lưới thu mua, logistics và kiểm dịch được kết nối tốt hơn, vùng này có thể đảm nhận một phần đáng kể sản lượng của phía Nam mà không cần xây dựng lại toàn bộ chuỗi thương mại vốn đã hình thành tại TP.HCM.

Bản đồ đồ họa các tỉnh TP.HCM, Long An, Đồng Nai, Tiền Giang với mũi tên kết nối và hình ảnh cây thủy sinh
Bản đồ kết nối cá cảnh TP.HCM với các tỉnh Long An, Đồng Nai, Tiền Giang

Ra miền Bắc, bản đồ cá cảnh thay đổi

Các vùng cá cảnh phía Bắc phát triển trong một bối cảnh khác. Thay vì những cụm sản xuất lớn phục vụ xuất khẩu, nhiều nơi được hình thành từ làng nghề truyền thống rồi dần thích nghi với thị trường hiện đại.

Yên Phụ bên Hồ Tây từng là một trong những làng cá cảnh nổi tiếng nhất Hà Nội. Những thế hệ người nuôi ở đây có kinh nghiệm sinh sản cá vàng, cá chọi, cá thần tiên và nhiều dòng cá cảnh truyền thống.

Nhưng khi Hà Nội mở rộng, ao hồ bị thu hẹp và giá đất tăng nhanh. Từ một vùng sản xuất, Yên Phụ dần chuyển thành nơi buôn bán và lưu giữ nghề. Hiện chỉ còn khoảng vài chục hộ tiếp tục gắn với cá cảnh, nhiều gia đình nhập cá từ các tỉnh khác hoặc từ nước ngoài về kinh doanh.

Sự suy giảm của Yên Phụ cho thấy một giới hạn khá rõ của nghề cá cảnh trong khu vực đô thị: nghề có thể tồn tại, nhưng diện tích sản xuất lớn khó giữ được khi giá trị đất tăng quá cao.

Nam Định lại đi theo chiều ngược lại

Trong khi vùng cá cảnh giữa Hà Nội thu hẹp, khu vực Mỹ Thắng, Nam Định lại phát triển mạnh nhờ còn quỹ đất nông nghiệp.

Từ khoảng những năm 2000, người dân bắt đầu chuyển những chân ruộng kém hiệu quả sang đào ao. Đến giai đoạn sau năm 2013, cá Koi dần trở thành một đối tượng nuôi quan trọng.

Vùng này từng phát triển tới hơn 200 hộ với khoảng 118 ha mặt nước. Nếu so về diện tích, đây là một trong những vùng cá cảnh tập trung đáng chú ý nhất phía Bắc.

Người nuôi cũng nhanh chóng thích nghi với cách bán cá mới. Thay vì chỉ mang cá ra chợ hoặc giao cho thương lái, nhiều trại sử dụng Facebook, video và livestream để giới thiệu trực tiếp từng con cá.

Cách bán này đặc biệt phù hợp với Koi. Người mua không chỉ mua một giống cá, mà chọn màu, hoa văn và hình dáng của từng cá thể. Một chiếc điện thoại vì vậy có thể giúp một trại cá ở Nam Định tiếp cận người chơi tại Hà Nội, Đà Nẵng hay TP.HCM mà không cần hệ thống đại lý quá lớn.Cá Betta vây đỏ rực rỡ bơi trong bể cùng dòng chữ Bản đồ cá cảnh Việt Nam.

Phú Thọ có một ngành cá cảnh sinh ra từ tập quán văn hóa

Cách Mỹ Thắng không quá xa là một vùng cá cảnh có cấu trúc hoàn toàn khác: làng cá chép đỏ Thủy Trầm ở Phú Thọ.

Người dân nơi đây đã nuôi cá chép đỏ từ khoảng những năm 1960. Thị trường chính không phải những hồ cảnh quanh năm mà tập trung vào một thời điểm rất đặc biệt: lễ ông Công ông Táo ngày 23 tháng Chạp.

Qua nhiều thập kỷ, một nhu cầu mang tính tín ngưỡng đã tạo nên cả vùng sản xuất chuyên biệt.

Năm 2017, địa phương thành lập HTX cá chép đỏ và dịch vụ tổng hợp nông nghiệp Thủy Trầm. Một năm sau, “Cá chép đỏ Thủy Trầm” được bảo hộ nhãn hiệu tập thể.

Mỗi dịp cuối năm, làng đưa ra thị trường hàng chục tấn cá. Riêng một số vụ gần đây, sản lượng đạt gần 40 tấn.

Thủy Trầm là ví dụ khá đặc biệt của ngành cá cảnh Việt Nam. Giá trị của con cá không chỉ đến từ hình dáng mà còn từ thời điểm sử dụng, văn hóa và tên tuổi của cả một vùng nuôi.

Một ngành sản xuất với nhiều vùng, nhiều vai trò

Đặt các vùng này cạnh nhau có thể thấy ngành cá cảnh Việt Nam không phát triển theo một mô hình thống nhất.

TP.HCM đã tiến khá xa về hướng công nghiệp với hệ thống giống, trang trại, doanh nghiệp, đóng gói và xuất khẩu.

Đồng Nai, Long An, Tiền Giang và Đồng bằng sông Cửu Long có tiềm năng trở thành vành đai sản xuất nhờ lợi thế đất và kinh nghiệm nuôi thủy sản.

Ở phía Bắc, Nam Định phát triển những vùng nuôi tập trung theo thị trường, trong khi Phú Thọ xây dựng được sản phẩm gắn với thương hiệu làng nghề. Yên Phụ lại đại diện cho những vùng sản xuất cũ đang dần chuyển sang thương mại khi đô thị tiến sát vào ao nuôi.

Từ những mảnh ghép này, có thể hình dung một ngành cá cảnh đang dần phân công theo vùng: nơi giữ giống, nơi sản xuất số lượng lớn, nơi tập trung dòng cá giá trị cao, nơi làm thương mại và nơi kết nối với thị trường xuất khẩu.

Điều còn thiếu là mức độ liên kết giữa những vùng đó.

Cá cảnh màu cam đốm xanh bơi trong nước cùng dòng chữ Hành trình vươn xa của cá cảnh Việt Nam.
Hành trình vươn xa của cá cảnh Việt Nam

Từ những hồ cá nhỏ đến một ngành công nghiệp

Một con cá cảnh khi rời trại vẫn còn một hành trình khá dài. Cá phải được tuyển chọn, dưỡng, kiểm tra sức khỏe, đóng túi oxy, vận chuyển đến sân bay rồi tiếp tục bay hàng nghìn kilomet đến nhà nhập khẩu. Với những dòng cá có yêu cầu kiểm dịch cao như Koi, hồ sơ dịch bệnh còn có thể quyết định cả lô hàng có được nhập cảnh hay không.

Bởi vậy, công nghiệp cá cảnh không chỉ nằm ở ao nuôi. Nó còn gồm hệ thống giống, thức ăn, thiết bị, thuốc và chế phẩm, kiểm dịch, logistics, thương mại, hồ kính, lọc nước, cây thủy sinh, thiết kế cảnh quan và dịch vụ chăm sóc hồ.

Khi những mắt xích đó cùng phát triển, giá trị tạo ra từ một con cá có thể lớn hơn rất nhiều so với giá bán tại trại.

Bản đồ cá cảnh Việt Nam hôm nay vì thế đang dịch chuyển từ những làng nghề riêng lẻ sang một mạng lưới sản xuất ngày càng chuyên môn hóa. TP.HCM giữ vai trò cửa ngõ thương mại và xuất khẩu; các vùng xung quanh mở rộng sản xuất; miền Bắc duy trì những cụm nuôi và làng nghề có bản sắc riêng.

Diện tích dành cho cá cảnh có thể không bao giờ lớn như tôm hay cá tra. Nhưng với một ngành mà giá trị được tạo ra từ từng con cá thay vì từng kilogram sản phẩm, đó lại chính là đặc điểm khiến cá cảnh có thể trở thành một ngành nông nghiệp đô thị đáng chú ý của Việt Nam.

Kim Tiền

Kim Tiền

Cộng tác bài viết

Xem thêm bài viết →