Ảnh minh họa
Cùng tắc biến
Cổ nhân dạy “cùng tắc biến” - cái gì bị nén ép hết mức, bị dồn đến đường cùng, ắt sẽ bật lại thật mạnh, tạo nên những biến đổi đột phá, với nguồn lực hình thành từ chính những dồn nén ấy. Chân lý biện chứng đó đúng cho mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Lĩnh vực sản xuất và XK cá tra cũng vậy.
Cá tra vốn chỉ là loài cá khiêm nhường, sống bình lặng giữa những dòng sông hiền hòa thuộc lưu vực Mêkông. Không nổi tiếng như cá ba sa, cá bông lau,... cá tra chỉ được sử dụng cho bữa ăn đạm bạc của những người nông dân nghèo. Chính những sức ép quá lớn từ tham vọng cạnh tranh thương trường và từ chính những thành tựu lớn lao đã đạt được, đã khiến cá tra trở thành một hiện tượng nổi bật trong sản xuất thủy sản và thương mại thủy sản thế giới, song cũng gây nên những tranh cãi, những thăng trầm đau đớn. Sức ép mà ngành cá tra phải gánh chịu trong hơn mười năm qua đến từ đâu?
Trước hết, đó là sức ép đến từ bên ngoài, chủ yếu là từ những thành viên Hiệp hội Chủ trại nuôi Cá nheo Mỹ (CFA), những người vốn độc tôn việc sản xuất và cung cấp philê cá nước ngọt da trơn thịt trắng ở Mỹ. Ngay từ khi những miếng philê cá basa đầu tiên được chào bán vào thị trường Mỹ năm 1998, họ đã biết đây sẽ là sản phẩm có năng lực cạnh tranh lớn, là mối nguy tiềm ẩn cho họ trên thương trường. Và họ đã dồn sức làm mọi việc để ngăn chặn. Những cuộc chiến pháp lý chống lại cá tra Việt Nam được khởi động, mà lớn nhất và kéo dài nhất là vụ kiện chống bán phá giá (CBPG) philê đông lạnh cá tra, basa diễn ra dai dẳng từ tháng 6/2002 đến nay. Bị ép bởi đối thủ nặng ký, nhưng cá tra Việt Nam không chết, lại còn lớn vọt, với kim ngạch XK hằng năm tăng theo cấp số nhân, trong khi cá nheo Mỹ ngày càng giảm sút. Vụ kiện CBPG của Mỹ vô hình chung đã “quảng cáo không công” giúp cá tra Việt Nam nổi tiếng, mở rộng thị trường ra khắp thế giới.
Nhưng sức ép lớn hơn lại xuất hiện từ chính sự thành công quá ngoạn mục của ngành cá tra Việt Nam, ngành công nghiệp thủy sản thành công nhất ở quy mô quốc gia, cả về tốc độ tăng trưởng, năng suất, sản lượng, quy mô sản xuất và XK, với tốc độ thâm nhập thị trường chóng mặt. Chỉ sử dụng chưa tới 6.000 ha diện tích mặt nước nuôi, nhưng với hệ thống gần trăm nhà máy chế biến trang bị hiện đại, tạo việc làm cho hàng trăm nghìn lao động, năm 2011 cá tra Việt Nam đã được XK sang 136 thị trường, đem lại doanh thu 1,8 tỷ USD.
Song giống với những gì mà các loài thủy sản nuôi thành công khác như tôm và cá hồi từng nếm trải, ngành cá tra đang ở giai đoạn lợi nhuận âm của chu trình phát triển, do tăng trưởng sản lượng quá nóng, khiến cung vượt cầu, chủ yếu phải sử dụng biện pháp giảm giá để thâm nhập thị trường mới. Cạnh tranh để bán hàng sơ chế sản phẩm philê đông lạnh ra thị trường thế giới ngày càng trở nên khốc liệt chính là “mặt trái của tấm huân chương”. Cộng đồng DN cá tra bị phân hóa, chia rẽ, giá bán ngày một giảm, lợi nhuận của người nuôi lẫn DN ngả dần về phía âm, thậm chí phải treo ao, thu hẹp sản xuất, phá sản.
Và mức thuế CBPG cao vô lý của Bộ Thương mại Mỹ áp đặt trong đợt xem xét hành chính lần thứ 8 vừa qua là giọt nước làm tràn ly. Đã đến lúc VASEP phải siết chặt lại đội ngũ để có thể vững bước tiến lên. Ngày 16/4/2013, Ban Thường trực Ủy ban Cá Nước ngọt VASEP đã cùng các DN XK cá tra vào thị trường Mỹ đồng thuận phải thay đổi phương thức hành động để cứu ngành cá tra. Lần đầu tiên việc xây dựng Quy tắc Ứng xử, làm cơ sở thực hiện sự đồng thuận của DN và kiểm soát sự tuân thủ cam kết đã được đặt ra và nhất trí. Sự kiện này chắc chắn sẽ mở ra trang mới cho sự phát triển của ngành cá tra Việt Nam. Ban Chấp hành VASEP cũng đã có nghị quyết sửa đổi Điều lệ Hiệp hội, phát huy tinh thần cộng đồng và ý thức trách nhiệm của mỗi hội viên VASEP trong giai đoạn phát triển mới.
Chúng ta lãnh nhận trách nhiệm biến những sức ép dồn nén của tình thế thành sức mạnh để giải quyết khó khăn cho cộng đồng. Đó là nghĩa vụ mà chúng ta không thể chối từ!
Nguồn: Vietfish