Đặc điểm sinh sản cá khế vằn

Cá khế vằn là một trong những đối tượng nuôi mới hiện nay vừa có giá trị kinh tế tiềm năng phát triển vừa phù hợp với đặc điểm môi trường sinh thái của Việt Nam.

cá khế vằn
Hình thái ngoài cá khế vằn.

Cá khế vằn có tên khoa học là Gnathanodon speciosus (Forskal, 1775) là loài cá biển lớn, có giá trị kinh tế cao, thịt trắng, thơm ngon, là đối tượng nuôi rất mới và nhiều tiềm năng phát triển ở vùng biển ấm như khu vực Nam Trung Bộ, Đông và Tây Nam Bộ. Cá khế vằn sinh trưởng nhanh, dễ nuôi vì có tính ăn tạp, nguồn thức ăn dễ tìm và nuôi được ở thủy vực nước lợ. Đặc biệt, cá sống thành bầy đàn, ăn nổi nên dễ quan sát, quản lý môi trường và phòng trị bệnh.

Trước đây, cá khế vằn được nuôi rải rác ở Khánh Hòa và cho hiệu quả kinh tế cao, có thể thay thế một số đối tượng nuôi truyền thống.Việc thử nghiệm sản xuất thành công giống nhân tạo cá khế vằn đã tạo tiền đề rất lớn trong việc mở rộng quy mô nghề nuôi, góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi cho nghề nuôi trồng thủy sản.

Việc nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản cá khế vằn cung cấp thêm thông tin về mùa vụ sinh sản, quá trình phát triển tuyến sinh dục, cũng như những thay đổi về nội tiết sinh sản, biến động về hàm lượng các hormone sinh dục trong chu kỳ sinh sản,..  sẽ hỗ trợ tốt cho việc sản xuất con giống hiệu quả, mở ra nhiều tiềm năng và cơ hội phát triển nghề nuôi cá biển.

Hệ số thành thục (GSI) là một chỉ số quan trọng đánh giá mức độ chín muồi của tuyến sinh dục, khối lượng tuyến sinh dục là một trong những thông số cho biết mức độ chín muồi của sản phẩm sinh dục. Qua đó có thể dự báo và theo dõi quá trình phát triển và chín muồi của các tế bào sinh dục. Trong sinh sản nhân tạo các loài cá, GSI có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nuôi vỗ cá bố mẹ nhằm tăng năng suất sinh sản.

Theo nghiên cứu chỉ số GSI ở cá khế vằn cái đạt cực đại vào tháng 6/2018 (3,05 ± 0,64 %), sau đó giảm dần ở các tháng tiếp theo và đạt cực tiểu vào tháng 12/2018 (0,85 ± 0,59 %). Sau tháng 12/2018, chỉ số GSI bắt đầu tăng trở lại theo chu kỳ.

GSI có hai đỉnh cao vào tháng 3 (1,61 ± 0,37 % ở tháng 3/2018 và có giá trị 2,35 ± 1,25 % ở tháng 3/2019) và tháng 6 (3,05 ± 0,64 %) trong năm nhưng xét về mặt thống kê thì giá trị GSI vào tháng 3/2018 và 3/2019 không có sự khác biệt so với giá trị GSI ở các tháng 5/2018 và tháng 9/2018. Các tháng đều bắt gặp các cá thể cái đã thành thục (buồng trứng ở giai đoạn IV).

Giá trị GSI trung bình của cá đực trong quá trình nghiên cứu dao động từ 

0,4% ±  0,3 % đến 3,2% ±  0,58%. Giá trị GSI ở tháng 3 và tháng 5 tương đương nhau (1,25%). Sang tháng 6, GSI bắt đầu tăng và đạt giá trị cực đại vào tháng 9 khi toàn bộ cá đực đều có tinh sào giai đoạn IV, giai đoạn tinh sào đạt kích thước tối đa. GSI đạt giá trị cực đại (3,2%) sau đó giảm mạnh vào tháng 12 rồi tăng nhẹ vào tháng 3/2019 và tiếp tục giảm và có giá trị nhỏ nhất vào tháng 4/2019 (0,4%).

Cá khế vằn là loài sinh sản quanh năm và mùa vụ sinh sản chính là từ tháng 3 đến tháng 10 trong năm.

Sự khác biệt về vùng địa lý, dẫn đến sự khác biệt về khí hậu, nhiệt độ, chu kì chiếu sáng, sẽ dẫn đến sự khác biệt về mùa vụ sinh sản. Thời kỳ sinh sản của cá khế vằn ở Thái Bình Dương là cuối tháng 2 đến đầu tháng 10 với cực đại từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 9. Trong khi đó, ở Ấn Độ Dương cá sinh sản vào tháng 4 và tháng 5.

Sức sinh sản tuyệt đối (AF) của cá khế vằn Gnathanodon speciosus từ 49.189 – 181.280 trứng, trung bình đạt 121.174 ± 66.842 trứng. Sức sinh sản tương đối (RF) của cá khế vằn trung bình đạt 107.607 ± 49.916 trứng/kg cá cái.

trứng và tinh sào cá khế vằn

Noãn sào và tinh sào cá khế vằn ở các giai đoạn phát triển

  • H: Buồng trứng ở giai đoạn II; K: Các hạt trứng bên trong buồng trứng ở giai đoạn IV.
  • A: Giai đoạn II; B: Giai đoạn III; C: Giai đoạn IV; D: Giai đoạn V

Trên đàn cá nghiên cứu tuyến sinh dục, buồng trứng ở giai đoạn I không tồn tại, đây là giai đoạn chỉ tồn tại một lần trong đời, chưa sinh sản lần đầu. Buồng trứng ở giai đoạn V không được bắt gặp trên các lần thu mẫu vì có thể cá thể cái đã sinh sản và buồng trứng đã trở về giai đoạn II hoặc III, IV.

Giai đoạn II: Buồng trứng vẫn còn trong suốt, có một mạch máu lớn và những nhánh nhỏ xung quanh. Nhìn mắt thường không thể thấy được những hạt trứng vì chúng gần như không màu, buồng trứng có màu sắc nhạt, thể tích nhỏ. 

Giai đoạn III hoặc IV: buồng trứng có màu sắc đậm, mạch máu phát triển, thể tích và khối lượng tăng lên đáng kể, các hạt trứng đã to dần và rời ra có thể quan sất bằng mắt thường điều này cho thấy buồng trứng đã sẵn sàng cho quá trình sinh sản.

Quá trình phát triển và thành thục, chín muồi và phóng thích tế bào sinh dục đực trong chu kì sinh sản của cá khế vằn tương đồng với các loài cá biển nhiệt đới nói chung như cá chẽm mõm nhọn, cá dìa,...

Giai đoạn I: nhìn bên ngoài, tinh sào là những dải mỏng giống noãn sào ở giai đoạn I, chính vì thế rất khó để phân biệt đực cái. 

Giai đoạn II: Tinh sào có kích thước rất nhỏ, hai phần của tinh sào còn dính nhau bởi màng treo dài. Tinh sào có màu hồng là màu của các mạch máu chạy dọc và có những tia nhỏ chạy về các lườn bên.

Giai đoạn III: Tinh sào tăng lên về mặt thể tích, hai phần tinh sào đã tách ra. Tinh sào có màu trắng, săn chắc và đàn hồi. Khi cắt ngang tinh sào, các mép của nó không tròn mà lại sắc cạnh và thấy xuất hiện sẹ có màu trắng trong (trắng sữa, chứa đầy sẹ. Khi cắt ngang tinh sào, các mép tròn lại ngay và chổ cắt có dịch nhờn chảy ra. Ở giai đoạn này, tinh trùng chín xuất hiện trong các bào nang và có xu hướng đi ra khỏi bào nang. Các tinh nguyên bào lớn đang phân chia giảm nhiễm. Ngoài ra, trong tinh sào còn có các tinh bào sơ cấp, tinh bào thứ cấp và các tinh tử nằm trên thành các ống sinh tinh dự trữ cho lần phát dục  

Giai đoạn V: Tinh sào đang ở thời kì sinh sản. Tinh sào có màu trắng sữa. Bên trong ống sinh tinh chứa đầy các tế bào tinh trùng chín muồi . Tuy nhiên, cá khế vằn không như nhiều loài cá khác. Khi tinh sào ở giai đoạn V, vuốt vào bụng cá không có hiện tượng tinh dịch chảy ra. Vì thế, ở giai đoạn thành thục sinh dục nhìn từ bên ngoài rất khó để phân biệt được cá khế vằn đực và cá khế vằn cái.

Trong sinh sản nhân tạo giống hay trong nghiên cứu thực địa, việc đánh giá chính xác mức độ thành thục sinh dục của cá có ý nghĩa quan trọng, giúp nâng cao tỷ lệ đẻ và tỷ lệ thụ tinh. 

Tài liệu tham khảo

[1] Nguyễn Thị Toàn Thư (2019). Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của cá khế vằn cái Gnathanodon speciosus (Forskal, 1775) nuôi tại Khánh Hòa, Luận văn thạc sĩ trường Đại học Nha Trang.

[2] Hứa Thị Ngọc Dung, Đào Thị Đoan Trang, Phạm Quốc Hùng (2020). Nghiên cứu đặc điểm sinh học tinh sào cá khế vằn Gnathanodon speciosus, Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản số 2/2020.

Đăng ngày 02/07/2021
Đinh Nhung
Sinh học

Nuôi trồng thủy sản thân thiện với môi trường

Thủy sản được coi là nguồn thực phẩm quan trọng cho tương lai do sự gia tăng dân số toàn cầu và diện tích đất cho nông nghiệp ngày càng hạn chế.

nuôi cá bớp
• 10:24 10/02/2022

50 tấn cá chẽm chết cóng

Hàng trăm ngàn con cá chẽm nuôi tại một trại cá ở Hy Lạp chết vì lạnh, sau trận bão tuyết lớn làm tê liệt toàn quốc gia này trong tuần.

cá chết hàng loạt
• 19:47 28/01/2022

Chất diệt khuẩn an toàn thân thiện với môi trường đến 95%

Người ta nói nuôi thủy sản là nuôi nước. Môi trường nước có sạch thì thủy sản nuôi ở dưới mới sống tốt và lớn lên được. Vậy mới nói khâu diệt khuẩn khử trùng ao là rất quan trọng.

chất diệt khuẩn
• 10:01 10/11/2021

Giải cứu cá voi nặng 3 tấn mắc cạn ở Huế

Người dân ở cửa biển Tư Hiền, xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế vừa giải cứu thành công một con cá voi nặng 3 tấn, dài hơn 5m mắc cạn do sóng biển đánh dạt bờ trong lúc triều cường dâng cao, biển động mạnh.

Cá voi mắc cạn
• 16:16 21/10/2021

Vì sao tôm có thể sống gần miệng núi lửa 450°C nhưng lại chết khi bị nấu ở 50°C?

Nghe có vẻ nghịch lý: một số loài tôm biển sâu được phát hiện sống gần miệng núi lửa dưới đáy đại dương – nơi nhiệt độ dòng phun có thể lên tới 450°C. Thế nhưng, nếu thả chúng vào nồi nước 50°C, chúng vẫn chết như bất kỳ loài tôm nào khác. Vậy điều gì đang thực sự xảy ra?

tôm không mắt
• 00:06 12/02/2026

"Nuôi" cá, tôm trong lò phản ứng sinh học - cơ hội cho startup Việt

Không cần ao hồ, không cần đánh bắt, những miếng cá ngừ đỏ au hay con tôm tươi rói giờ đây có thể được "nuôi" ngay trong các lò phản ứng sinh học khổng lồ giữa lòng thành phố.

Lò phản ứng sinh học
• 14:08 22/01/2026

Phương pháp xử lý tảo bằng Enzyme sinh học

Sử dụng enzyme sinh học để kiểm soát tảo đang trở thành xu hướng tất yếu trong nuôi tôm an toàn sinh học, giúp hạn chế rủi ro sốc môi trường và bảo vệ sức khỏe đàn tôm. Phương pháp này được xem là lời giải thay thế cho các biện pháp cắt tảo hóa học vốn tiềm ẩn nhiều hệ lụy dài hạn.

Tảo ao tôm
• 12:20 12/01/2026

Quorum sensing là gì? Khi vi khuẩn phối hợp gây bệnh

Liệu vi khuẩn có khả năng “giao tiếp” và phối hợp hành động để hạ gục tôm chỉ sau một đêm? Hãy cùng khám phá cơ chế Quorum Sensing để giải hiện tượng này.

Tôm
• 11:18 16/12/2025

Phụ thu 10% và những điều chỉnh tức thời của thị trường nhập khẩu thủy sản tại Hoa Kỳ

Chính sách phụ thu nhập khẩu 10% của Hoa Kỳ đang tạo ra nhiều biến động đối với thị trường thủy sản toàn cầu, buộc các nhà nhập khẩu phải nhanh chóng điều chỉnh chiến lược kinh doanh, chuỗi cung ứng và cấu trúc chi phí. Diễn biến này được dự báo sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong năm 2026.

chế biến thủy sản
• 01:47 20/03/2026

Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời cử tri TP.HCM về giải pháp ngăn thực phẩm bẩn

Trước lo ngại về tình trạng sử dụng chất cấm trong chăn nuôi, thủy sản và thực phẩm không rõ nguồn gốc, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết sẽ tiếp tục hoàn thiện chính sách, tăng cường hậu kiểm và xử lý nghiêm vi phạm để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.

cá
• 01:47 20/03/2026

Làm Thế Nào Để Một Trang Trại Cá Có Thể Kiếm Được Lợi Nhuận?

Lợi nhuận trong nuôi cá không đến từ việc cắt giảm chi phí bằng mọi giá, mà đến từ khả năng tối ưu biên lợi nhuận trên mỗi kilogram cá bán ra. Điều này phụ thuộc vào ba yếu tố cốt lõi: lựa chọn loài nuôi, phương thức nuôi và chiến lược thức ăn.

• 01:47 20/03/2026

Xung Đột Trung Đông Leo Thang: Chuỗi Cung Ứng Thủy Sản Việt Nam Đối Mặt Rủi Ro Lớn

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (VASEP), Trung Đông đang nổi lên là một trong những thị trường tăng trưởng đáng chú ý của thủy sản Việt Nam.

cảng
• 01:47 20/03/2026

Chuyển giao công nghệ tạo giống tôm kháng bệnh (SPR)

Việc chuyển giao thành công kỹ thuật chọn giống kháng bệnh chính là chìa khóa giải quyết triệt để rủi ro từ gốc rễ, thay vì thụ động chạy chữa bằng hóa chất như trước đây.

tôm
• 01:47 20/03/2026
Some text some message..