Nạo vét cải tạo môi trường ao nuôi tôm - Ảnh: T.L
Giảm ô nhiễm môi trường vùng nuôi thủy sản ven biển
Theo Chi cục thủy sản Tiền Giang, hiện nay toàn tỉnh có khoảng 4.000 ha nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh, quảng canh cải tiến và tôm - lúa với tổng sản lượng tôm cung cấp cho thị trường hàng năm hơn 21.000 tấn. Bên cạnh đó, tỉnh cũng có khoảng 2.150 ha nuôi nghêu, tập trung ở xã Tân Thành (huyện Gò Công Đông) và xã Phú Tân (huyện Tân Phú Đông) với sản lượng nghêu gần 19.000 tấn/năm. Ngoài ra, các đối tượng thủy sản nuôi nước lợ khác như: sò huyết, cua, cá kèo, cá chẽm... cũng được nuôi rải rác trên địa bàn các huyện phía đông.
Nghề nuôi thủy sản phát triển mạnh, trong khi ý thức của người dân về việc sử dụng hóa chất, kháng sinh đúng cách trong nuôi tôm chưa cao; việc dập dịch, xử lý chất thải trong nuôi tôm trước khi thải ra môi trường chưa được người nuôi tôm quan tâm. Những bất cập của nghề nuôi trồng thủy sản đã và đang gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái ven biển, dẫn đến nguy cơ dịch bệnh bùng phát và làm giảm hiệu quả kinh tế trong nuôi tôm.
Để góp phần bảo vệ môi trường biển, cũng như hạn chế vấn đề dịch bệnh, gia tăng hiệu quả cho người nuôi trồng thủy sản, Sở NN&PTNT Tiền Giang khuyến cáo người nuôi tôm và các đối tượng nuôi thủy sản nước lợ trong ao, không sử dụng các loại hóa chất, kháng sinh dạng nguyên liệu mà chỉ dùng các sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường dùng trong nuôi trồng thủy sản nằm trong danh mục được phép lưu hành, hoặc được cơ quan có thẩm quyền cho phép sản xuất, kinh doanh. Tuyệt đối không sử dụng các loại hóa chất diệt giáp xác, cải tạo ao nuôi tôm có nguồn gốc thuốc bảo vệ thực vật như: Cypermethrin, Deltamethrin...
Áp dụng quy trình nuôi tôm an toàn sinh học bằng cách sử dụng các chế phẩm sinh học, hạn chế đến mức tối đa việc sử dụng các loại hóa chất, kháng sinh trong nuôi tôm để hạn chế bớt chất thải do phân, thức ăn dư thừa, dư lượng các loại hóa chất, kháng sinh trong ao tôm, từ đó hạn chế lượng chất thải thải ra môi trường sông rạch tự nhiên khi cải tạo ao nuôi. Thường xuyên theo dõi sức khỏe thủy sản nuôi, từ đó quản lý tốt lượng thức ăn hàng ngày của thủy sản nuôi, tránh tình trạng sử dụng thức ăn dư thừa, làm tăng lượng chất thải trong ao nuôi, bởi lượng thức ăn dư thừa sẽ tích tụ xuống đáy ao làm ô nhiễm môi trường ao nuôi, từ đó làm ô nhiễm môi trường.
Khuyến khích người nuôi đầu tư hệ thống ao xử lý nước thải để thực hiện việc xử lý nước ao nuôi thủy sản sau khi thu hoạch hay bị dịch bệnh trước khi xổ xả nước trong ao ra môi trường, với diện tích ao xử lý nước thải tối thiểu bằng 30% diện tích ao nuôi. Bùn thải trong nuôi thủy sản cũng cần phải có khu chứa riêng biệt trong cơ sở nuôi, hay có phương án xử lý bùn thải phù hợp như bồi lắp nền nhà, tôn cao bờ đê hay san lấp mặt bằng... Tránh tình trạng bơm bùn thải trực tiếp ra các kênh rạch dẫn đến tình trạng ô nhiễm hữu cơ, để lại dư lượng hóa chất trong đất, nước và gây ra tình trạng bồi lắng các kênh rạch trong vùng nuôi.
Ngoài ra, bà con nuôi tôm cần thả tôm giống với mật độ thích hợp; cụ thể nên thả giống với mật độ 15 - 25 con/m2 đối với tôm sú, 45 - 60 con/m2 đối với tôm thẻ chân trắng. Cần áp dụng quy trình thực hành nuôi trồng thủy sản tốt và chứng nhận VietGAP để quá trình nuôi tôm đảm bảo an toàn thực phẩm, dịch bệnh, môi trường và an sinh xã hội.
Đối với người nuôi nghêu ven biển, cần thường xuyên kiểm tra tình trạng sức khỏe nghêu, nếu phát hiện nghêu chết cần kịp thời thu gom nghêu đem ra khỏi bãi nuôi và có biện pháp khử trùng để hạn chế vấn đề ô nhiễm môi trường, cũng như dịch bệnh trên nghêu.
Nguồn: Khoa học phổ thông, 20/07/2015