Danh mục

Tin tức

Giá cả

eShop

Việc làm

Học tập

Kết nối

Farmext

Thức ăn nuôi tôm

Giá thức ăn nuôi tôm đã tăng lần thứ 3 trong 6 tháng đầu năm 2026.

Ai đang quyết định giá thức ăn thủy sản tại Việt Nam?

09:06 06/06/2026 Thảo 137 lượt xem

Đầu tháng 6/2026, nhiều doanh nghiệp tiếp tục thông báo tăng giá thức ăn tôm thêm từ 1.200 – 1.500 đồng/kg. Đây là lần điều chỉnh thứ ba chỉ trong vòng 6 tháng đầu năm. Nếu tính từ năm 2020 đến nay, thị trường đã trải qua hơn 10 đợt tăng giá thức ăn tôm, bất chấp nhiều giai đoạn giá nguyên liệu thế giới hạ nhiệt.

Hiện nay, giá thức ăn tôm thẻ chân trắng phổ biến dao động từ 30.500 – 40.000 đồng/kg, trong khi thức ăn tôm sú ở mức 34.000 – 42.000 đồng/kg, tùy hàm lượng đạm và dòng sản phẩm. Với thức ăn chiếm hơn 60% giá thành nuôi tôm, mỗi đợt tăng giá đều tác động trực tiếp đến lợi nhuận của người nuôi.

Điều đáng chú ý là làn sóng tăng giá này diễn ra trong bối cảnh năng lực sản xuất trong nước vẫn còn dư thừa và giá nhiều nguyên liệu đầu vào đã giảm đáng kể so với giai đoạn khủng hoảng 2021–2023.

Vậy ai thực sự đang quyết định giá thức ăn thủy sản tại Việt Nam?

Nghịch lý: Nhà máy thức ăn thủy sản dư công suất nhưng giá vẫn tăng

Nếu nhìn vào năng lực sản xuất, Việt Nam không hề thiếu nguồn cung thức ăn thủy sản.

Theo báo cáo tại Hội nghị Quản lý thức ăn thủy sản và sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản năm 2025 của Cục Thủy sản và Kiểm ngư, công suất thiết kế của ngành thức ăn hỗn hợp cho tôm hiện đạt khoảng 2,31 triệu tấn/năm. Tuy nhiên, sản lượng thực tế trong 10 tháng đầu năm 2025 chỉ đạt khoảng 1,2 triệu tấn, tương đương khoảng 52% công suất thiết kế.

Tình trạng tương tự cũng xuất hiện ở nhiều nhóm sản phẩm khác. Thức ăn cho cá, ếch và lươn chỉ vận hành khoảng 42% công suất; nhóm nguyên liệu sản xuất thức ăn đạt gần 58%; thức ăn bổ sung chỉ đạt khoảng 16%; thức ăn tươi sống khoảng 19%; còn các sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản chỉ đạt khoảng 26%.

Giá thức ăn thủy sản vẫn tăng cho dù các nhà máy vận hành chưa hết công suất thiết kế.

Nói cách khác, phần lớn nhà máy trong ngành hiện mới vận hành từ khoảng 15% đến gần 60% công suất thiết kế, cho thấy năng lực sản xuất vẫn còn dư địa rất lớn.

Nói cách khác, một phần rất lớn năng lực sản xuất của ngành vẫn đang bỏ trống.

Theo quy luật thị trường, khi nguồn cung dư thừa, cạnh tranh thường tạo áp lực kéo giá xuống. Tuy nhiên thực tế lại diễn ra theo chiều ngược lại.

Năm 2023, giá thức ăn tôm tại nhiều tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long từng tăng lên tới 44.000 đồng/kg. Đến năm 2025, mặt bằng giá có giảm nhẹ từ 500 – 1.500 đồng/kg nhờ giá nguyên liệu hạ nhiệt. Thế nhưng chỉ sau một năm, giá thức ăn lại quay đầu tăng liên tiếp 3 lần trong nửa đầu năm 2026.

Điều này cho thấy giá thức ăn thủy sản hiện nay không còn được quyết định đơn thuần bởi công suất sản xuất.

Quyền định giá thức ăn thủy sản đang nằm ngoài nhà máy

Một trong những yếu tố chi phối lớn nhất hiện nay là sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu.

Theo số liệu thương mại năm 2025 từ Tổng cục Hải quan, Việt Nam đã chi hơn 4,58 tỷ USD để nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu. Trong đó, Argentina là nhà cung cấp lớn nhất với 1,68 tỷ USD, chiếm 36,6% tổng kim ngạch nhập khẩu; Hoa Kỳ đứng thứ hai với 859 triệu USD, tương đương 18,8% thị phần.

Chỉ trong 4 tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này tiếp tục đạt gần 1,32 tỷ USD.

Điều đó đồng nghĩa giá thức ăn thủy sản trong nước đang phụ thuộc trực tiếp vào giá bột cá, khô đậu nành, lúa mì, tỷ giá USD và biến động nguồn cung toàn cầu.

Bên cạnh nguyên liệu, chi phí logistics tiếp tục tạo áp lực đáng kể lên giá thành sản xuất.

Những bất ổn địa chính trị tại Trung Đông đã khiến nhiều hãng tàu phải thay đổi lộ trình vận chuyển, đi vòng qua Mũi Hảo Vọng thay vì đi qua Kênh đào Suez. Theo phản ánh từ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thủy sản, thời gian vận chuyển kéo dài thêm từ 7 – 20 ngày, trong khi chi phí tăng thêm từ 2.000 – 4.000 USD cho mỗi container.

Cấu trúc thị trường trong nước với chuỗi cung ứng nhiều tầng khiến giá thức ăn phụ thuộc nhiều yếu tố hơn.

Tuy nhiên, yếu tố ít được nhắc tới nhất lại nằm ở cấu trúc thị trường trong nước.

Hiện nay, khối doanh nghiệp FDI đang nắm giữ hơn 50% thị phần thức ăn thủy sản tại Việt Nam. Riêng ở phân khúc thức ăn tôm, thị trường tập trung chủ yếu vào một số doanh nghiệp lớn như Uni-President, C.P. Việt Nam, Grobest, Skretting và Tongwei.

Sau khi rời nhà máy, sản phẩm tiếp tục đi qua hệ thống đại lý nhiều tầng trước khi đến tay người nuôi. Mỗi mắt xích đều phát sinh chi phí vận chuyển, chiết khấu thương mại, hỗ trợ bán hàng và công nợ.

Điều đó khiến giá bán cuối cùng không chỉ phản ánh chi phí sản xuất, mà còn phản ánh toàn bộ chi phí của chuỗi cung ứng.

Người nuôi không mua thức ăn từ nhà máy, mà mua từ cả chuỗi chi phí

Có một thực tế ít được nhắc đến trong ngành nuôi tôm: Không phải tất cả người nuôi đều mua thức ăn với cùng một mức giá.

Theo phản ánh từ nhiều vùng nuôi, các hộ có nguồn vốn mạnh và thanh toán trực tiếp cho doanh nghiệp có thể tiếp cận mức giá khoảng 29.000 đồng/kg.

Trong khi đó, nhiều hộ nuôi nhỏ lẻ phải mua trả chậm thông qua hệ thống đại lý với mức giá phổ biến từ 34.000 – 38.000 đồng/kg, thậm chí có thời điểm lên tới 44.000 đồng/kg.

Như vậy, cùng một sản phẩm nhưng chênh lệch giá mua có thể lên tới 5.000 – 15.000 đồng/kg.

Khi thức ăn chiếm trên 60% giá thành nuôi tôm, khoảng chênh lệch này đủ để tạo ra sự khác biệt rất lớn về hiệu quả sản xuất giữa các nhóm người nuôi.

Vì vậy, câu hỏi "Ai đang quyết định giá thức ăn thủy sản tại Việt Nam?" có lẽ không có một đáp án duy nhất.

Người quyết định giá không chỉ là nhà sản xuất, cũng không hoàn toàn là đại lý.

Giá thức ăn hiện được hình thành bởi ba tầng chi phí cùng lúc: nguyên liệu nhập khẩu, logistics quốc tế và hệ thống phân phối nội địa.

Đó cũng là lý do ngành thức ăn thủy sản đang tồn tại một nghịch lý kéo dài nhiều năm: công suất sản xuất chỉ vận hành từ 15% đến dưới 60%, nhưng giá bán vẫn liên tục tăng.

Cho đến khi Việt Nam giảm được sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, tối ưu logistics và rút ngắn chuỗi phân phối, người nuôi vẫn sẽ phải mua thức ăn theo mức giá được quyết định bởi toàn bộ chuỗi giá trị, chứ không phải chỉ bởi riêng nhà máy sản xuất.

Thảo

Thảo

Biên tập viên

Xem thêm bài viết →

Bài viết liên quan