Hậu quả của việc vượt ngưỡng FCR

Trong nuôi tôm, đặc biệt là nuôi tôm thẻ chân trắng bán thâm canh, thâm canh và siêu thâm canh công nghệ cao, hệ số chuyển hoá thức ăn- FCR được rất nhiều người nuôi tôm quan tâm.

FCR trong nuôi tôm
Chỉ số FCR cực kì quan trọng trong nuôi tôm. Ảnh: uv-vietnam.com.vn

FCR (Feed Conversion Ratio, Feed Conversion Rate) được hiểu là hệ số chuyển hoá thức ăn, chấm mồi hay hiệu quả chuyển đổi từ thức ăn thành thịt tôm khi sử dụng loại thức ăn nào đó trong nuôi tôm. 

FCR tăng cao có ý nghĩa gì?  

FCR tăng cao là biểu hiện kết quả vụ nuôi trồng đó không hiệu quả, lợi nhuận thấp, huề vốn hoặc thua lỗ. Khi thấy chỉ số FCR tăng cao, người nuôi cần chấn chỉnh, cải thiện, việc sử dụng thức ăn, cách cho tôm ăn và quản lý thức ăn ở vụ nuôi tiếp theo. Ngoài ra, nếu người nuôi gặp phải vấn đề tăng cao FCR trong thời gian nuôi thì cần kiểm soát lại môi trường, hàm lượng khí độc, theo hướng chủ động và hiệu quả.  

Nếu như FCR của vụ mùa trước tăng cao, điều đó có thể gây ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý người nuôi, khiến họ do dự khi quyết định thả nuôi vụ mới. Khả năng triển khai vụ mới có thể gặp nhiều khó khăn về tài chính, tinh thần, không tự tin đưa ra các quyết định trong quy trình kỹ thuật. Do đó, cần có các giải pháp nhằm cải thiện FCR trong vụ nuôi tiếp theo.  

Cần kiểm soát FCR trong mỗi vụ mùaFCR mùa trước cao có thể gây ảnh hưởng đến vụ nuôi mới. Ảnh: contom.vn 

Nguyên nhân làm FCR tăng cao  

Việc tính toán FCR được dựa trên tổng lượng thức ăn đã sử dụng, chia cho tổng khối lượng tôm thu hoạch của một vụ nuôi. 

Sau khi sử dụng thức ăn, nếu quá trình chuyển đổi từ thức ăn trong suốt vụ mùa thu lại được lượng tôm với khối lượng cao, thì FCR lúc đó được coi là thấp, chấm mồi thấp. Khi FCR thấp, cho thấy loại thức ăn mà người nuôi tôm sử dụng có chất lượng tốt, đạt hiệu quả cao và việc định lượng thức ăn, quản lý thức ăn, cho tôm ăn, của người nuôi tôm rất chặt chẽ và hiệu quả. Ngoài ra, khi chỉ số FCR thấp, chấm mồi thấp, cho thấy quá trình ăn mồi, tiêu hoá thức ăn, hấp thụ thức ăn và chuyển hoá thức ăn của tôm nuôi hiệu quả triệt để.  

Trong nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh và siêu thâm canh, người nuôi luôn kỳ vọng FCR, chấm mồi trong khoảng ≤ 1.2 – 1.1 hoặc ≤ 1.0. Tuy nhiên, vẫn có những mô hình nuôi đạt mức FCR lên đến 1.5 – 1.6.  

Có rất nhiều yếu tố tác động đến việc FCR tăng cao trong quá trình nuôi tôm. Nếu như người nuôi tôm có mục đích kéo dài thời gian nuôi hơn bình thường để làm cho tôm to hơn về kích cỡ, điều đó sẽ là một trong những nguyên nhân chính làm cho FCR trong ao nuôi tôm tăng cao. Ngoài ra, việc thả tôm với mật độ dày đặc cũng sẽ khiến chất lượng tôm giống không tốt, đàn tôm tăng trưởng chậm, tôm phân đàn, sẽ góp phần tăng cao về chỉ số FCR. 

Bên cạnh đó, còn nhiều mô hình nuôi tôm của người nuôi vẫn còn đang áp dụng những công nghệ nuôi cũ, lỗi thời, không cập nhật thường xuyên những kỹ thuật nuôi mới mà chỉ nuôi theo kinh nghiệm cũng góp phần tác động làm FCR tăng cao. Việc nuôi tôm trái vụ, nghịch vụ cũng sẽ gây những ảnh hưởng rất lớn đến FCR, vì khi đó, tôm sẽ chậm lớn hơn bình thường rất nhiều. 

Nếu như thức ăn không phù hợp, không chỉ gây ra những bệnh cho tôm gây ảnh hưởng kinh tế, mà điều đó còn làm tôm chậm lớn, phân đàn, tăng trưởng chậm, làm FCR tăng cao. Việc định lượng thức ăn cho tôm theo giai đoạn nuôi, theo trọng lượng tôm, theo ngày tuổi, tình trạng sức khoẻ tôm, cũng như quản lý thức ăn khi cho tôm ăn của người nuôi, là cực kỳ cần thiết và quan trọng đối với người nuôi tôm. Vì nếu như thực hiện không tốt sẽ làm tăng lượng FCR trong vụ mùa.  

Thức ăn cực kỳ quan trọng trong vụ nuôiFCR có thể tăng cao nếu như thức ăn không phù hợp. Ảnh: agri.vn 

Và trong thời gian nuôi, người nuôi đôi khi không chú ý đến các hàm lượng khí độc có trong ao như NH3, NO3, H2S, kim loại nặng, phèn…, khiến chúng tăng cao, vượt ngưỡng an toàn cho phép trong ao tôm, làm tôm chậm lớn, phân đàn, tăng trưởng chậm, dẫn đến sức khỏe tôm kém gặp các bệnh thường gặp như EHP, gan tuỵ, phân trắng… và FCR trong ao tôm từ đó cũng tiếp tục tăng cao. 

Hạn chế rủi ro về FCR trong quá trình nuôi tôm thẻ chân trắng 

Có rất nhiều giải pháp để cải thiện FCR. Đầu tiên là vấn đề trong khâu chọn con giống và chất lượng giống. Người nuôi hãy nói không với tôm giống không rõ nguồn gốc, rẻ tiền, không thương hiệu hoặc tôm giống chưa qua kiểm tra PCR. Nên chọn mua tôm giống từ cơ sở uy tín, tôm giống có thương hiệu lâu năm, có tiếng tốt trên thị trường.  

Nên có giai đoạn ương tôm giống trong thời gian 18 – 20 ngày trong trại ương, hồ ương, trước khi thả nuôi. Không nên thả trực tiếp tôm xuống ao nuôi, vì tôm giống còn nhỏ, sức đề kháng kém, nếu như thả trực tiếp sẽ gây hao hụt. Tôm giống cần được chăm sóc kỹ trong thời gian ương trên. Mật độ thả giống nuôi nên tương ứng quy trình nuôi, giai đoạn nuôi. Cần thay đổi quan điểm, thả nuôi mật độ dày để thu được sản lượng cao, vì trên thực tế, việc làm đó chỉ góp phần làm cho tôm giống chậm lớn và hao hụt đáng kể.    

Về thức ăn, trong đó chất lượng thức ăn, cỡ viên thức ăn, hàm lượng đạm cần chú ý định lượng thức ăn cho tôm. Định lượng thức ăn cho tôm thẻ chân trắng theo hướng phù hợp từng giai đoạn ương, nuôi, phù hợp kích cỡ tôm trong ao, tình trạng sức khoẻ tôm, thực tế môi trường, diễn biến thời tiết và khí hậu. Nên cho tôm ăn 80% so với nhu cầu thực tế, tránh cho tôm ăn dư. Đối với tôm giai đoạn ương, tôm bị phân đàn, nên chia nhiều lần ăn trong ngày (7 – 9 lần/ngày), lần ăn cuối cùng nên kết thúc trước 21 giờ mỗi ngày. Giai đoạn tôm lứa, tôm thương phẩm cho ăn 5 – 6 lần/ngày. Cung cấp đúng lượng thức ăn sẽ đảm bảo tôm phát triển nhanh, tăng trưởng tốt. Định lượng thức ăn hợp lý, bà con sẽ cải thiện đáng kể chỉ số FCR, tiết kiệm được chi phí, hạ giá thành sản xuất, tăng lợi nhuận vụ nuôi.   

Về chất lượng môi trường, định lượng thức ăn phù hợp, không dư thừa, hàm lượng khí độc thấp, tảo độc ít có cơ hội phát triển. Khi thông số môi trường ổn định, tôm phát triển, tăng trưởng tốt, khoẻ mạnh sẽ góp phần cải thiện FCR vụ nuôi. Chủ động bổ sung dinh dưỡng, Enzyme tiêu hoá, vi sinh có lợi cho đường ruột, chất hỗ trợ gan tuỵ, nhằm tăng sức khoẻ tôm, hạn chế dịch bệnh phát sinh, góp phần cải thiện FCR.  

Đăng ngày 21/12/2022
Lý Vĩnh Phước @ly-vinh-phuoc
Kỹ thuật

Tổng quan về công nghệ MBBR trong nuôi trồng thủy sản

MBBR là Moving Bed Biofilm Reactor, hứa hẹn là công nghệ xử lý nước thải ưu việt trong nuôi trồng thủy sản.

công nghệ MBBR
• 18:17 25/09/2021

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP không chỉ loại bỏ hiệu quả nồng độ Ammonium mà còn xử lý đến 90% chất hữu cơ.

Chế biến cá tra
• 07:00 22/04/2020

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản bằng cảm biến nano

Sử dụng được cả trên bờ, dưới nước để quan trắc chất lượng nước, hệ thống cảm biến nano do Viện Công nghệ nano (INT) thuộc Đại học Quốc gia TPHCM nghiên cứu giúp người nuôi trồng thủy sản yên tâm khi chất lượng nước nuôi được cảnh báo tự động kịp thời khi có sự cố.

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản
• 14:35 05/02/2020

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng.Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ
• 08:46 30/10/2019

Áp dụng tiến bộ kỹ thuật để nuôi tôm nước lợ đạt hiệu quả cao, bền vững

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh trên thủy sản ngày càng diễn biến phức tạp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nuôi tôm nước lợ được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng suất, giảm rủi ro và hướng đến phát triển bền vững.

Nuôi tôm thẻ
• 12:04 20/01/2026

Nhớt bạt ao nuôi tôm, nguyên nhân và cách xử lý

Nhớt bạt ao nuôi tôm là hiện tượng xuất hiện một lớp nhớt mỏng, trơn, màu trắng đục hoặc vàng nâu bám trên bề mặt bạt ao nuôi (đáy và thành ao). Đây là hiện tượng phổ biến trong ao nuôi tôm lót bạt HDPE và thường xảy ra sau một thời gian nuôi hoặc sau khi ao có nhiều chất hữu cơ tích tụ.

Ao tôm
• 14:04 12/01/2026

Tại sao cá lóc hay ăn thịt lẫn nhau? Kỹ thuật lọc cỡ để không bị hao hụt số lượng

Tập tính ăn thịt đồng loại ở cá lóc là nguyên nhân hàng đầu gây hao hụt đầu con trong nuôi thâm canh. Hiểu rõ bản năng săn mồi và áp dụng kỹ thuật lọc cỡ đúng thời điểm là chìa khóa giúp người nuôi bảo vệ lợi nhuận trong bối cảnh giá thức ăn tăng cao.

Cá lóc
• 08:57 08/01/2026

Kiểm chứng các kinh nghiệm truyền miệng trong ngành nuôi tôm

Nuôi tôm là lĩnh vực có mức độ rủi ro cao, nơi mỗi biến động nhỏ của môi trường đều có thể dẫn đến thiệt hại vô cùng nghiêm trọng.

Nuôi tôm thẻ
• 11:38 02/01/2026

Những thông số bắt buộc phải biết trên nhãn mác thủy sản đóng gói

Trong chuỗi cung ứng thực phẩm hiện đại, nhãn mác trên bao bì thủy sản đã trở thành một hệ thống dữ liệu kỹ thuật phức tạp thay vì những dòng mô tả cơ bản.

Tôm thẻ
• 13:56 29/01/2026

Mẹo chọn hải sản tươi khi đi chợ: Nhìn đúng để mua không bị hớ

Việc lựa chọn hải sản tươi ngon là bước đầu tiên và quan trọng để có một bữa ăn hấp dẫn, giàu dinh dưỡng. Chỉ cần quan sát và kiểm tra vài chi tiết nhỏ, người mua hoàn toàn có thể phân biệt được đâu là hải sản tươi, đâu là hàng kém chất lượng. Dưới đây là những dấu hiệu cơ bản, dễ áp dụng khi chọn tôm, cua, và cá.

Tôm thẻ
• 13:56 29/01/2026

Nuôi ghép tôm và rong nho

Mô hình nuôi ghép tôm thẻ chân trắng và rong nho là phương thức canh tác kết hợp hai đối tượng nuôi trên cùng một diện tích mặt nước hoặc trong hệ thống tuần hoàn.

Tôm thẻ
• 13:56 29/01/2026

Kỹ thuật vận chuyển và thả tôm giống trong điều kiện rét đậm đầu năm 2026

Những đợt rét đậm đầu năm 2026 trực tiếp ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của tôm giống trong khâu vận chuyển và thả nuôi. Để đảm bảo sức khỏe đàn tôm, người nuôi cần tuân thủ nghiêm ngặt các thông số về nhiệt độ, mật độ đóng gói và quy trình thuần hóa môi trường trước khi bắt đầu vụ nuôi.

Tôm thẻ giống
• 13:56 29/01/2026

Thủy sản Việt Nam giữ vững top 3 nguồn cung lớn nhất tại Singapore

Năm 2025 khép lại với tin vui từ đảo quốc sư tử khi kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt mức tăng trưởng hai con số, vượt mốc 125 triệu SGD. Kết quả này giúp Việt Nam bảo vệ thành công vị trí top 3 nhà cung cấp lớn nhất, khẳng định vị thế vững chắc trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của các đối thủ sừng sỏ.

Tôm đông lạnh
• 13:56 29/01/2026
Some text some message..