Hệ vi sinh vật đường ruột của tôm Postlarvae sau khi giảm độ mặn

Nhóm vi khuẩn Bdellovibrio có một đặc điểm chung là có thể sống ký sinh và tiêu diệt luôn cả các vi khuẩn khác, rất có tiềm năng làm tăng tính đa dạng sinh học và chức năng cho đường ruột tôm.

tôm hậu ấu trùng
Hệ vi sinh vật đường ruột tôm PL đã có thay đổi đáng kể sau khi được xử lý hạ độ mặn

Thực tế cho thấy, hiện tại ở đa số các trại giống, tôm hậu ấu trùng từ 4 - 5 ngày tuổi (PL4-5) đều được sống trong môi trường có độ mặn giảm dần, thông thường là từ 20ppt giảm xuống còn 4 -5ppt hay thậm chí bằng 0. Sau đó lại chuyển sang các độ mặn khác nhau để đến với các trại nuôi thương phẩm. Như vậy, việc thay đổi độ mặn như thế có tác dụng gì với tôm?

Một loạt các tác nhân gây bệnh bao gồm vi khuẩn, vi rút, nấm và các tác nhân khác, đã gây ảnh hưởng rất lớn đến tôm nuôi trong các trại thương phẩm và cả các trại tôm giống. Trong đó, Vibrio là nhóm các vi khuẩn cơ hội xuất hiện nhiều nhất, và gây nhiều triệu chứng rõ ràng cho tôm. Các chuyên gia chứng minh rằng tôm PL sau khi sống trong nước bị giảm dần độ mặn sẽ kéo theo số lượng vibrio trên tôm giảm. Tuy nhiên, mặc dù giảm được số lượng vibrio nhờ phương pháp này nhưng có làm tôm khỏe mạnh hơn hay không thì vẫn chưa có cơ sở chắc chắn.

Nhiều báo cáo ở những năm gần đây cho thấy, tôm chỉ mới ở giai đoạn PL8-10 là đã xuất hiện nhiều triệu chứng của bệnh phân trắng và thậm chí là chết hết trong vòng 30 ngày. Qua đó mối quan tâm đặc biệt hiện tại chính là liệu phương pháp hạ độ mặn để giảm mật độ vibrio, có thể ảnh hưởng đến hệ vi sinh vật đường ruột, làm cho tôm giống kém thích nghi hơn với các môi trường khác nhau, hay dễ bị tấn công bởi các mầm bệnh tiềm ẩn hơn không?

Một hệ thống vi sinh vật cân bằng sẽ rất quan trọng trong việc duy trì sức khỏe và ngăn ngừa bệnh tật cho tôm. Bdellovibrio (BALOs) là một nhóm vi khuẩn rất nhỏ, tồn tại tự nhiên trong các hệ sinh thái trên cạn hoặc dưới nước cũng như trong ruột của các sinh vật khác nhau bao gồm cả tôm và người. Chúng rất đa dạng nhưng có một đặc điểm chung là có thể sống ký sinh và tiêu diệt luôn cả các vi khuẩn khác. Một số công trình nghiên cứu trước đây cho thấy Bdellovibrio BALOs có thể được sử dụng để kiểm soát vibrio, thay đổi và phục hồi cấu trúc của cộng đồng vi sinh vật. Vì vậy chắc chắn có khả năng thúc đẩy sự tồn tại và phát triển của tôm nuôi.

Để giải đáp những thắc mắc trên thì các nhà nghiên cứu đã tiến hành một thí nghiệm dùng tôm thẻ giai đoạn PL7-8 (chiều dài cơ thể 0.7-0.8cm) được lấy mẫu từ một trại sản xuất ở Quảng Đông, Trung Quốc. Trước đó những con tôm này đã được hạ dần độ mặn rồi nâng lên độ mặn 15ppt để phù hợp với hợp với thử nghiệm của các chuyên gia. Người ta so sánh các nghiệm thức bổ sung Bdellovibrio BALOs và 2 loại vi khuẩn có lợi khác để đánh giá hiệu quả sau khi xử lý độ mặn thì có ảnh hưởng đến đường ruột và hệ vi sinh vật của tôm hay không.


Sự thay đổi độ mặn này có thể làm xáo trộn thành phần vi sinh vật trong đường ruột tôm ở bất kì giai đoạn nào của chu kỳ sống.

Kết quả sau 7 ngày kéo dài thí nghiệm, môi trường nước trong các bể vẫn còn khá ổn định. Nhiệt độ, oxy hòa tan và độ pH vẫn ở mức có thể kiểm soát được, không thấy có khả năng gây ảnh hưởng đến tôm thí nghiệm. Tỷ lệ sống ghi nhận được ở nghiệm thức bổ sung nhóm Bdellovibrio BALOs là 90%, cao hơn tỷ lệ sống của 2 nghiệm thức còn lại lần lượt là 83,3 và 81,7%. Ngoài ra tôm PL ở nghiệm thức có bổ sung Bdellovibrio BALOs cũng cho tỷ lệ tăng trọng tích lũy theo phần trăm cao nhất trong cả 3 nhóm.

Bên cạnh đó, cả về thành phần và chức năng của hệ vi sinh vật đường ruột tôm PL đã có thay đổi đáng kể sau khi được xử lý hạ độ mặn. Các vi khuẩn cơ hội thường gặp là Gammaproteobacteria, nhưng số lượng đã giảm nhiều sau 7 ngày với nghiệm thức cho ăn Bdellovibrio BALOs. Chỉ số đa dạng sinh học trước và sau 7 ngày thử nghiệm vẫn không thay đổi đáng kể ở bể tôm có bổ sung nhóm vi khuẩn này.

Như vậy, việc giảm độ mặn được áp dụng hiện tại ở các trại giống không thể loại bỏ toàn bộ Vibrio trên tôm PL. Và sự thay đổi độ mặn này có thể làm xáo trộn thành phần vi sinh vật trong đường ruột tôm ở bất kì giai đoạn nào của chu kỳ sống. Chỉ số đa dạng sinh học có giá trị lớn hơn 2.0 thì chứng tỏ hệ vi sinh vật trong cơ thể tôm PL đang ở một trạng thái khỏe mạnh. Bằng chứng là tỷ lệ tăng cân tích lũy tốt hơn và tỷ lệ sống cao hơn ở nghiệm thức cho ăn bổ sung nhóm vi khuẩn Bdellovibrio.

Thêm nữa nếu bổ sung Bdellovibrio từ ban đầu vào nước bể thí nghiệm còn có tác động rất tích cực đến chức năng và cả về thành phần của hệ vi sinh vật đường ruột tôm, tăng cường tính đa dạng sinh học và cả chức năng của chúng.

Về mặt quản lý sức khỏe và dịch bệnh, các chiến lược xử lý tập trung vào một mầm bệnh cụ thể dường như không phù hợp và có thể nói là lỗi thời về quan điểm quản lý sinh thái. Vì vậy, chiến lược hiện tại là phải quản lý toàn bộ vi sinh vật gây hại thay vì chỉ nhắm vào Vibrios. Dựa trên các nghiên cứu trước đây và cả thử nghiệm này thì Bdellovibrio là một nhóm vi sinh vật rất thích hợp được xem xét cho chiến lược tiếp cận trên.

Impact on gut microbiota health in L. vannamei postlarvae after salinity reduction treatment by Qingqing Cao Farhana Najnine Hongcao Han Bing Wu Junpeng Cai, Ph.D.

Đăng ngày 22/02/2021
Hà Tử
Kỹ thuật

Tổng quan về công nghệ MBBR trong nuôi trồng thủy sản

MBBR là Moving Bed Biofilm Reactor, hứa hẹn là công nghệ xử lý nước thải ưu việt trong nuôi trồng thủy sản.

công nghệ MBBR
• 18:17 25/09/2021

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP không chỉ loại bỏ hiệu quả nồng độ Ammonium mà còn xử lý đến 90% chất hữu cơ.

Chế biến cá tra
• 07:00 22/04/2020

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản bằng cảm biến nano

Sử dụng được cả trên bờ, dưới nước để quan trắc chất lượng nước, hệ thống cảm biến nano do Viện Công nghệ nano (INT) thuộc Đại học Quốc gia TPHCM nghiên cứu giúp người nuôi trồng thủy sản yên tâm khi chất lượng nước nuôi được cảnh báo tự động kịp thời khi có sự cố.

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản
• 14:35 05/02/2020

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng.Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ
• 08:46 30/10/2019

Hiệu quả nuôi cá mú trân châu thương phẩm: Từ giống đến thu hoạch

Cá mú trân châu (cá mú lai) đang trở thành đối tượng nuôi biển có giá trị kinh tế cao tại nhiều địa phương ven biển Việt Nam. Nhờ tốc độ sinh trưởng nhanh, tỷ lệ sống cao và chất lượng thịt ngon, loài cá này được nhiều hộ nuôi lựa chọn phát triển trong các hệ thống nuôi lồng bè trên biển và ao đất ven bờ.

cá mú trân châu
• 19:15 11/03/2026

Giảm phụ thuộc Artemia trong sản xuất tôm giống: Xu hướng mới của các trại giống

Artemia từ lâu được xem là nguồn thức ăn sống quan trọng trong sản xuất giống tôm và cá biển. Tuy nhiên, chi phí cao, biến động chất lượng và rủi ro an toàn sinh học đang khiến nhiều trại giống tìm kiếm các giải pháp thay thế hoặc giảm phụ thuộc vào nguồn thức ăn này.

tôm
• 12:00 11/03/2026

Ao nổi lót bạt HDPE cùng rốn xả xi-phông giải pháp chủ động phòng ngừa dịch bệnh

Sự chuyển dịch từ ao đất truyền thống sang mô hình ao nổi lót bạt kết hợp rốn xả xi-phông đang trở thành cuộc cách mạng công nghệ trong ngành chăn nuôi thủy sản. Hệ thống thiết kế khép kín này không chỉ giải quyết triệt để bài toán ô nhiễm môi trường nước mà còn là chìa khóa vàng giúp người nông dân kiểm soát hoàn toàn rủi ro dịch bệnh.

ao bạc
• 19:00 10/03/2026

Nắng nóng mùa hè: Cảnh giác bệnh vểnh mang ở tôm nuôi

Bước vào mùa hè, nhiều vùng nuôi tôm ở Việt Nam bắt đầu đối mặt với những đợt nắng nóng kéo dài. Nhiệt độ nước ao có thể tăng lên trên 32–34°C vào buổi trưa, trong khi hàm lượng oxy hòa tan giảm mạnh.

tôm bị vểnh mang
• 15:00 07/03/2026

Phụ thu 10% và những điều chỉnh tức thời của thị trường nhập khẩu thủy sản tại Hoa Kỳ

Chính sách phụ thu nhập khẩu 10% của Hoa Kỳ đang tạo ra nhiều biến động đối với thị trường thủy sản toàn cầu, buộc các nhà nhập khẩu phải nhanh chóng điều chỉnh chiến lược kinh doanh, chuỗi cung ứng và cấu trúc chi phí. Diễn biến này được dự báo sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong năm 2026.

chế biến thủy sản
• 22:11 13/03/2026

Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời cử tri TP.HCM về giải pháp ngăn thực phẩm bẩn

Trước lo ngại về tình trạng sử dụng chất cấm trong chăn nuôi, thủy sản và thực phẩm không rõ nguồn gốc, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết sẽ tiếp tục hoàn thiện chính sách, tăng cường hậu kiểm và xử lý nghiêm vi phạm để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.

cá
• 22:11 13/03/2026

Làm Thế Nào Để Một Trang Trại Cá Có Thể Kiếm Được Lợi Nhuận?

Lợi nhuận trong nuôi cá không đến từ việc cắt giảm chi phí bằng mọi giá, mà đến từ khả năng tối ưu biên lợi nhuận trên mỗi kilogram cá bán ra. Điều này phụ thuộc vào ba yếu tố cốt lõi: lựa chọn loài nuôi, phương thức nuôi và chiến lược thức ăn.

• 22:11 13/03/2026

Xung Đột Trung Đông Leo Thang: Chuỗi Cung Ứng Thủy Sản Việt Nam Đối Mặt Rủi Ro Lớn

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (VASEP), Trung Đông đang nổi lên là một trong những thị trường tăng trưởng đáng chú ý của thủy sản Việt Nam.

cảng
• 22:11 13/03/2026

Chuyển giao công nghệ tạo giống tôm kháng bệnh (SPR)

Việc chuyển giao thành công kỹ thuật chọn giống kháng bệnh chính là chìa khóa giải quyết triệt để rủi ro từ gốc rễ, thay vì thụ động chạy chữa bằng hóa chất như trước đây.

tôm
• 22:11 13/03/2026
Some text some message..