Con cá da trơn khổng lồ dài hơn hai mét tháng 11-2015. Ảnh: Đại học Nevada.
Những 'thủy quái' cuối cùng: 5 loài cá nước ngọt khổng lồ đang biến mất khỏi sông Việt Nam
Việt Nam sở hữu hệ thống sông ngòi dày đặc bậc nhất Đông Nam Á, là nơi cư trú của nhiều loài cá nước ngọt cỡ đại - trong đó có những "quái ngư" từng đạt kích thước hàng trăm kg.
Tuy nhiên, phần lớn các loài này hiện đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do khai thác quá mức, đập thủy điện chặn dòng di cư và mất môi trường sống. Dưới đây là 5 loài cá nước ngọt lớn nhất còn ghi nhận tại Việt Nam, xếp theo kích thước tối đa.

1. Cá tra dầu (Pangasianodon gigas)
Kích thước tối đa: dài tới 300 cm, nặng trên 300 kg - được xem là loài cá nước ngọt lớn nhất thế giới.
Đặc điểm sinh học: Thân dài, dẹp bên, da trơn không vảy, đầu lớn, miệng rộng và không có râu ở giai đoạn trưởng thành. Là loài ăn tạp thiên về thực vật (tảo, tảo bám), khác biệt với phần lớn cá da trơn cỡ lớn khác vốn ăn thịt.
Phân bố: Lưu vực sông Mê Kông, tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long. Cá trưởng thành di cư ngược dòng lên vùng đông bắc Campuchia, Lào, Thái Lan để sinh sản vào khoảng tháng 10–12 hằng năm.
Bảo tồn: Cực kỳ nguy cấp (CR) theo Sách Đỏ Việt Nam và IUCN; nằm trong Phụ lục I CITES, nghiêm cấm khai thác và buôn bán thương mại. Quần thể đã suy giảm hơn 80% trong 50 năm qua do khai thác, đập thủy điện chặn đường di cư sinh sản và ô nhiễm nguồn nước.
Giải pháp kỹ thuật: Ưu tiên bảo tồn bằng cách khôi phục hành lang di cư qua các bậc thang cá tại các đập lớn; duy trì chương trình nuôi vỗ, sinh sản nhân tạo và tái thả có kiểm soát di truyền để tránh suy thoái nguồn gen.

2. Cá hô (Catlocarpio siamensis)
Kích thước tối đa: dài tới 300 cm, nặng trên 300 kg - loài cá thuộc họ Cá chép lớn nhất thế giới.
Đặc điểm sinh học: Thân to, vảy lớn ánh bạc, đầu lớn, miệng rộng. Cá trưởng thành sống ở các vực nước sâu của sông lớn, trong khi cá con di chuyển vào vùng đồng bằng ngập lũ để kiếm ăn và tăng trưởng.
Phân bố: Lưu vực sông Mê Kông và sông Đồng Nai; hiện quần thể tự nhiên rất hiếm, đã biến mất khỏi nhiều khu vực trước đây từng phổ biến.
Bảo tồn: Cực kỳ nguy cấp (CR) tại Việt Nam, Nguy cấp (EN) trên phạm vi toàn cầu; có tên trong Phụ lục I CITES. Nguyên nhân suy giảm chính là khai thác quá mức (đặc biệt cá cỡ lớn - cá bố mẹ) và mất bãi đẻ do đập thủy điện.
Giải pháp kỹ thuật: Quy định kích thước tối thiểu khai thác nghiêm ngặt để bảo vệ đàn cá bố mẹ; xác định và bảo vệ các bãi đẻ tự nhiên còn lại bằng khu vực cấm khai thác theo mùa vụ; đẩy mạnh mô hình đồng quản lý nghề cá với cộng đồng ven sông.

3. Cá vồ cờ (Pangasius sanitwongsei)
Kích thước tối đa: dài tới 250 cm, nặng trên 200 kg.
Đặc điểm sinh học: Thân dài, dẹp bên, đầu lớn, da trơn, dễ nhận diện qua vây lưng và vây ngực cao dạng "lá cờ" ở cá non. Là loài ăn thịt, thức ăn chủ yếu là cá nhỏ và giáp xác, tốc độ sinh trưởng nhanh.
Phân bố: Lưu vực sông Mê Kông (Đồng bằng sông Cửu Long, Lào, Thái Lan, Campuchia) và lưu vực sông Chao Phraya.
Bảo tồn: Cực kỳ nguy cấp (CR); quần thể được ước tính suy giảm trên 90% trong 30 năm qua do khai thác quá mức, đập thủy điện và phát triển giao thông thủy. Hiện gần như vắng bóng ngoài tự nhiên tại Việt Nam.
Giải pháp kỹ thuật: Ưu tiên khảo sát, đánh giá quần thể còn sót lại bằng công nghệ eDNA và đánh dấu telemetry để xác định vùng phân bố cuối cùng, làm cơ sở khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt; song song duy trì đàn hậu bị nuôi bảo tồn tại các trung tâm giống thủy sản.

4. Cá trà sóc (Probarbus jullieni)
Kích thước tối đa: dài tới 180 cm, nặng tới 70 kg (phổ biến 20-40 kg).
Đặc điểm sinh học: Thân thon dài, vảy to, đặc trưng bởi 6-8 sọc nâu sẫm chạy dọc thân, vây và đuôi ánh đỏ, hai đôi râu ở mõm.
Phân bố: Trung lưu sông Đồng Nai, hệ thống sông Mê Kông, cũng như Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia.
Bảo tồn: Cực kỳ nguy cấp (CR) tại Việt Nam, Nguy cấp (EN) toàn cầu, thuộc Phụ lục I CITES. Suy giảm trên 80% trong 30 năm do khai thác quá mức và phân mảnh môi trường sống bởi đập thủy điện.
Giải pháp kỹ thuật: Các chương trình nuôi vỗ, ương giống và tái thả có kiểm soát đang được triển khai; cần bổ sung đánh giá di truyền quần thể trước tái thả để đảm bảo đa dạng gen, tránh hiện tượng suy thoái cận huyết ở đàn nuôi bảo tồn.

5. Cá ngựa - nhóm Mahseer (Tor spp.)
Kích thước tối đa: dài 100–150 cm, nặng 20-40 kg tùy loài (Tor mekongensis, Tor tambroides, Tor dongnaiensis...).
Đặc điểm sinh học: Thân dài, vảy lớn, đầu to, miệng rộng có râu phát triển; sống ở vùng nước chảy xiết, giàu oxy tại suối núi và sông đầu nguồn. Có tập tính di cư lên thượng nguồn để sinh sản vào mùa mưa.
Phân bố: Các sông lớn miền Bắc, miền Trung, Tây Nguyên, lưu vực sông Đồng Nai và Mê Kông.
Bảo tồn: Nhiều loài trong nhóm được xếp vào bậc Sắp nguy cấp (VU) hoặc Nguy cấp (EN) do khai thác quá mức và mất sinh cảnh nước chảy nguyên sinh khi các con suối đầu nguồn bị chặn dòng làm thủy điện nhỏ.
Giải pháp kỹ thuật: Bảo vệ các đoạn suối đầu nguồn còn nguyên trạng làm sinh cảnh sinh sản; hạn chế cấp phép thủy điện nhỏ tại các nhánh suối có ghi nhận quần thể Tor tự nhiên; khuyến khích mô hình câu thả trong du lịch câu cá thể thao thay vì khai thác thương phẩm.
Nhận định chung
Cả 5 loài trên đều thuộc nhóm bị đe dọa ở mức Cực kỳ nguy cấp hoặc Nguy cấp, phản ánh một thực trạng chung: những loài cá càng lớn, sinh trưởng chậm và cần quãng đường di cư dài để sinh sản thì càng dễ tổn thương trước áp lực khai thác và các công trình thủy điện chặn dòng. Ba nhóm giải pháp kỹ thuật cốt lõi cần được ưu tiên đồng thời:
Khôi phục kết nối dòng chảy - xây dựng đường cá đi hoặc điều tiết xả nước tại các đập hiện hữu vào mùa di cư sinh sản.
Bảo tồn nguồn gen có kiểm soát - kết hợp nuôi vỗ, sinh sản nhân tạo với đánh giá di truyền trước khi tái thả, tránh làm nghèo đa dạng gen quần thể hoang dã.
Đồng quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng - trao quyền giám sát cho ngư dân địa phương, quy định kích thước và mùa vụ khai thác nghiêm ngặt tại các bãi đẻ đã xác định.
Bài viết tổng hợp và biên tập dựa trên dữ liệu Sách Đỏ Việt Nam, Danh lục Đỏ IUCN và các nghiên cứu khoa học về khu hệ cá lưu vực sông Mê Kông và Đồng Nai.