Hội nghị Tổng kết nuôi tôm các tỉnh phía Bắc năm 2013 và triển khai kế hoạch năm 2014
Ngày 5/12, tại Nghệ An, Bộ NN&PTNT đã tổ chức Hội nghị Tổng kết nuôi tôm các tỉnh phía Bắc năm 2013 và triển khai kế hoạch năm 2014. Thứ trưởng Bộ NN&PNTT, Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản Vũ Văn Tám chủ trì Hội nghị.
Năm 2013 đánh dấu ngành tôm nuôi nước lợ phục hồi sản xuất, được mùa được giá và kiểm soát tốt dịch bệnh, xác định được hướng phát triển rõ ràng, đặc biệt là tôm thẻ chân trắng.
Theo Tổng cục Thủy sản, tính đến nay, diện tích nuôi tôm của cả nước đạt 652.612 ha, bằng 99,2% cùng kỳ năm 2012; trong đó, diện tích nuôi tôm sú là 588.894 ha, tôm thẻ chân trắng 63.719 ha. Sản lượng thu hoạch là 475.854 tấn (sản lượng tôm sú là 232.853 tấn, tôm thẻ chân trắng là 243.001 tấn). Giá trị xuất khẩu tôm đạt khoảng 2,5 tỷ USD, tăng gần 33% so cùng kỳ 2012 và chiếm 44% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của cả nước. Các tỉnh từ Phú Yên đến Quảng Ninh có diện tích nuôi tôm nước lợ là 36.879 ha (bằng 5,7% diện tích tôm cả nước), sản lượng đạt 76.071 tấn (bằng 14,1% sản lượng tôm cả nước). Các tỉnh có diện tích nuôi tôm đạt sản lượng lớn như: Quảng Ninh, Nghệ An, Quảng Nam, Phú Yên.
Theo đánh giá tại Hội nghị, điểm nổi bật vụ nuôi tôm 2013 là sự sụt giảm sản lượng của các nước trong khu vực do dịch bệnh hoại tử gan tụy cấp, nhu cầu nguyên liệu tăng kéo theo giá tôm tăng cao. Mặt khác, tôm thẻ chân trắng hiện đang được thả nuôi và diện tích và sản lượng ngày càng tăng, vượt mức kế hoạch.
Về sản xuất giống, cả nước có 1.722 cơ sở sản xuất tôm sú và 583 cơ sở tôm thẻ chân trắng; sản lượng giống sản xuất ước khoảng 68,4 tỷ con (tôm sú 21,3 tỷ; tôm thẻ chân trắng 47,2 tỷ). Các tỉnh từ Quảng Ninh đến Phú Yên có 227 cơ sở (chiếm 13,18% tổng số cơ sở sản xuất giống của cả nước), sản lượng đạt trên 7 tỷ con giống (bằng 4,8% sản lượng giống của cả nước). Các tỉnh có sản lượng tôm giống lớn như: Bình Định, Phú Yên, Quảng Nam, Quảng Bình, Quảng Ninh.
Công tác quản lý môi trường và dịch bệnh trên tôm nuôi được thực hiện tốt, đã kiểm soát được bệnh hoại tử gan tụy cấp, góp phần quan trọng vào sự thành công của vụ nuôi tôm. Tuy nhiên, do thời tiết bất ổn, mưa bão, lũ lụt thường xuyên nên dịch bệnh tôm vẫn xảy ra gây thiệt hại cho người nuôi. Diện tích nuôi tôm bị bệnh của các tỉnh từ Quảng Ninh đến Phú Yên là 2.304 ha/68.099 ha (bằng 10,4% so với diện tích nuôi tôm bị bệnh của cả nước), , chủ yếu do bệnh đốm trắng, bệnh hoại tử gan tụy.

Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành tôm nuôi nước lợ vẫn còn nhiều khó khăn và tồn tại. Trong xuất khẩu, việc Trung Quốc tận thu tôm nguyên liệu cộng với giá tôm thương phẩm tăng đã khiến nhiều doanh nghiệp “mắc kẹt” khâu đầu ra. Còn với nuôi trồng, diện tích tôm nuôi bị thiệt hại dù đã giảm nhưng vẫn còn cao, số hộ thua lỗ không ít, dịch bệnh phần nào được khống chế nhưng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro… Do vậy, để nuôi tôm nước lợ thật sự bền vững thì ngành còn rất nhiều việc phải làm, đặc biệt là với cơ quan quản lý.
Kết luận tại hội nghị, Thứ trưởng Vũ Văn Tám nhận định, năm 2013, mặc dù diện tích nuôi tôm không tăng nhưng sản lượng tăng cao, đặc biệt là tôm thẻ chân trắng. Đối với xuất khẩu cũng đạt được giá trị cao. Các cơ quan, hiệp hội đã phối hợp hiệu quả với nhau để đấu tranh thành công các rào cản kỹ thuật, thương mại mà các thị trường đặt ra cho tôm xuất khẩu của Việt Nam. Sản xuất trong nước đã kiểm soát tốt dịch bệnh, vai trò quản lý Nhà nước ở địa phương đã được thực hiện tốt. Người nuôi và doanh nghiệp đã thể hiện được sức sáng tạo cao, tạo ra nhiều mô hình hay, hiệu quả, góp phần làm tăng sản lượng, giá trị cho ngành tôm.
Tuy nhiên, nghề nuôi tôm vẫn còn tồn tại một số hạn chế như vấn đề quy hoạch và quản lý quy hoạch nuôi tôm, việc tuân thủ lịch thời vụ thả nuôi. Tại các tỉnh miền Bắc, hình thức nuôi tôm chân trắng trên cát thâm canh đang phát triển mạnh mẽ, do vậy cần có giải pháp kiểm soát tốt quy hoạch vùng nuôi.
Năm 2014, nền kinh tế có nhiều dấu hiệu khả quan, lãi suất, tín dụng, các cơ chế chính sách sẽ tốt hơn, đó sẽ là điều kiện để ngành tôm phát triển. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu, quản lý dịch bệnh tốt hơn, tăng cường đầu tư cho thủy sản, chủ động, tích cực trong công tác quy hoạch. Muốn vậy cần thực hiện hai nhóm giải pháp về chỉ đạo sản xuất và chuyên môn kỹ thuật. Nhóm giải pháp về chỉ đạo sản xuất sẽ tăng cường thông tin dự báo thời tiết, phòng chống dịch bệnh, tổng kết, giới thiệu các mô hình điển hình để nhân rộng có hiệu quả. Nhóm giải pháp về chuyên môn kỹ thuật sẽ tập trung vào việc tiếp tục nghiên cứu hội chứng hoại tử gan tụy cấp, hướng dẫn kỹ thuật, chủ động sản xuất giống, hướng đến một ngành nuôi tôm lớn, không phải nhập khẩu con giống.
Nguồn: Tổng cục thủy sản, 06/12/2013