Danh mục

Tin tức

Giá cả

eShop

Việc làm

Học tập

Kết nối

Farmext

tom ca mau

Ngoài nuôi tôm sinh thái, các địa phương trong huyện Năm Căn đẩy mạnh nuôi tôm công nghiệp đáp ứng nhu cầu xuất khẩu. Ảnh: THANH QUANG

Hướng tới tương lai với kỳ vọng mới

06:02 28/12/2013 Ðỗ Chí Công 1,616 lượt xem

Huyện Năm Căn nằm dọc theo sông Cửa Lớn vừa rộng, vừa sâu, nối biển Đông với biển Tây, có nguồn thuỷ sản phong phú, đa dạng và những cánh rừng đước bạt ngàn. Trong công cuộc kiến thiết quê hương, Năm Căn được xác định là đô thị động lực của tỉnh và đang vươn mình tiến lên thị xã trong tương lai gần.

Những năm đầu chia tách huyện, Năm Căn gặp rất nhiều khó khăn, thách thức, do xuất phát điểm về kinh tế - xã hội thấp, với tỷ trọng ngư - nông - lâm nghiệp chiếm 56,95% trong cơ cấu kinh tế. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội yếu kém; tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao.

Song, với tinh thần vượt khó và năng động, sáng tạo, Đảng bộ, quân và dân huyện Năm Căn đầu tư khai thác có hiệu quả các tiềm năng lợi thế, đưa Năm Căn trở thành huyện phát triển khá của tỉnh.  

Kinh tế phát triển nhanh

Theo đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 10 năm qua đạt khá cao, bình quân 13,65%/năm, tổng sản phẩm (GDP) trên địa bàn sau 10 năm tăng 3,6 lần. Thu nhập bình quân đầu người tăng 4,6 lần, năm 2013 đạt 31,2 triệu đồng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng nông nghiệp từ 56,95% giảm còn 46,25%. Thu ngân sách Nhà nước tăng 2,52 lần; kim ngạch xuất khẩu tăng hơn 2 lần so với năm 2004.

10 năm qua, kinh tế thuỷ sản vẫn là ngành mũi nhọn của huyện, phát triển và tăng trưởng khá ổn định. Năm 2013, tỷ trọng của ngành chiếm 37,14% GDP, đạt 442 tỷ đồng, tăng gần gấp 2 lần so với năm 2004; sản lượng thuỷ sản từ 11.881 tấn tăng lên 24.033 tấn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu.

Nhiều mô hình sản xuất hiệu quả, bền vững đã và đang được nhân rộng, như nuôi trồng kết hợp nhiều loài thuỷ hải sản trên cùng một diện tích, nuôi tôm sinh thái dưới tán rừng; diện tích nuôi tôm năng suất cao ngày càng được mở rộng.

Thực hiện cơ chế quản lý rừng và đất lâm nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng giao đất, khoán rừng đến hộ gia đình, chuyển từ khai thác sang chăm sóc, tỉa thưa, bảo vệ và trồng mới rừng. Thành tựu cơ bản trong sản xuất lâm nghiệp 10 năm qua là công tác chăm sóc và bảo vệ rừng được thực hiện tốt, diện tích rừng của huyện được giữ vững và phát triển. Năm 2013, diện tích rừng tập trung của huyện 17.200 ha, tăng 1.800 ha so với năm 2003.

Lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển khá nhanh, góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện theo hướng công nghiệp - xây dựng, nông nghiệp và dịch vụ; giải quyết tốt việc làm cho lao động, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

Tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2013 trên địa bàn huyện đạt 865 tỷ đồng, tăng gấp 2 lần so với năm 2003; tăng bình quân hằng năm 11,65%. Thương mại, dịch vụ phát triển nhanh, với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, chất lượng các dịch vụ nâng lên. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ năm 2013 đạt 667 tỷ đồng, tăng gần gấp 6 lần so với năm 2003, tăng bình quân hằng năm 21,35%.

Công tác xúc tiến thương mại được chú trọng, hoạt động xuất khẩu được duy trì, mặt hàng xuất khẩu của huyện chủ yếu là thuỷ sản. Thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng, đến nay đã xuất khẩu sang gần 40 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, tập trung ở các thị trường lớn và đòi hỏi chất lượng sản phẩm cao. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản năm 2013 đạt 30,5 triệu USD, tăng gấp 2 lần so với năm 2003, tăng bình quân hằng năm 7,35%.

Thu ngân sách năm 2013 đạt 107,42 tỷ đồng, tăng 2,52 lần so với năm 2004. Kết quả thu, chi ngân sách 10 năm qua thể hiện nền kinh tế - tài chính của huyện đã có bước chuyển biến tích cực cả về quy mô, tốc độ và cơ cấu nguồn thu - chi theo hướng tiến bộ. Có được kết quả đó là do các hoạt động sản xuất, kinh doanh và hoạt động dịch vụ đạt tốc độ tăng trưởng khá.

Tình hình kinh tế - tài chính lành mạnh đã tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện tốt các mục tiêu phát triển xã hội, giữ vững an ninh - quốc phòng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Đầu tư lớn vào kết cấu hạ tầng

Khi mới tái lập, kết cấu hạ tầng Năm Căn còn nhiều yếu kém. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2003 là 138 tỷ đồng, nhưng đến năm 2013 đạt 980 tỷ đồng (chiếm 17,84% GDP), tăng 7,1 lần so năm 2013. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển nhanh, đường ô-tô đến trung tâm xã tăng từ 2 lên 6 xã, thị trấn; đường nhựa, bê-tông tăng 16,63 lần, cầu bê-tông tăng 4,42 lần, hộ dân sử dụng điện từ 56,39% tăng lên 99%, số phòng học các cấp tăng 42,81%, giáo viên tăng 25,4%, bình quân 30,26 học sinh trên 1 phòng học; 100% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, tổng số giường bệnh tăng 41,4%; bình quân có 6,4 bác sĩ, dược sĩ đại học/vạn dân.

Hệ thống giao thông đường bộ phát triển nhanh, từ chỗ phần lớn phải lưu thông chủ yếu bằng đường thuỷ, đến nay đã xây dựng, nâng cấp nhiều tuyến giao thông bộ đấu nối với quốc lộ, đường đến trung tâm các xã, đường liên xã, liên ấp. Trong 10 năm qua, đã đầu tư xây dựng mới 532 km lộ và 234 cây cầu bê-tông; xây dựng mới 134 công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất, kết hợp với giao thông nông thôn.

Nhiều công trình quan trọng được Trung ương, tỉnh đầu tư như: Các cầu trên tuyến Quốc lộ 1 đoạn Đồng Cùng - Năm Căn; nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1 đoạn Cà Mau - Năm Căn, đường Hồ Chí Minh, cầu Kinh Tắc, cầu Năm Căn, xây dựng các tuyến đường ô-tô đến trung tâm xã, Bệnh viện đa khoa khu vực Năm Căn…; thị trấn Năm Căn được nâng cấp lên đô thị loại IV, huyện đang trong tiến trình xây dựng, chỉnh trang để phát triển lên thị xã. Hệ thống lưới điện nông thôn phát triển khá mạnh, đến nay, 100% xã được sử dụng điện quốc gia, tăng 1,76 lần so năm 2003.

Lĩnh vực giáo dục và đào tạo, hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập được coi trọng và phát huy hiệu quả. Cơ sở vật chất trường học được tăng cường, tạo ra sự thay đổi rõ nét. Năm Căn đã hoàn thành chương trình kiên cố hoá trường, lớp học; xây mới 125 phòng học, nâng tổng số phòng học toàn huyện hiện có 417 phòng.

Quy mô các bậc học, cấp học đều tăng. Toàn huyện hiện có 35 trường học, tăng 6 trường so với năm 2003, có 15 trường đạt chuẩn quốc gia; 8/8 xã, thị trấn hoàn thành phổ cập trung học cơ sở. Chất lượng học tập, rèn luyện của học sinh ngày càng được nâng lên.

Đến nay, 100% ấp, khóm có trụ sở sinh hoạt văn hoá, 8/8 xã, thị trấn có đội văn nghệ quần chúng, các loại hình sinh hoạt văn hoá - văn nghệ như: đờn ca tài tử, hát với nhau… được duy trì và phát huy tốt.

Các chính sách an sinh xã hội, đầu tư phát triển, hỗ trợ người nghèo, gia đình chính sách, gia đình khó khăn được thực hiện đồng bộ, quyết liệt nên đời sống nhân dân được cải thiện. Các chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước, nhất là chính sách đối với đồng bào dân tộc Khmer, hỗ trợ cho hộ nghèo được thực hiện khá tốt.

Tỷ lệ hộ nghèo giảm khá nhanh, chỉ còn  6,9%. Trong 10 năm qua đã xây dựng 1.576 căn nhà vì người nghèo, nhà Đồng đội; cơ bản hoàn thành chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo. Công tác đền ơn đáp nghĩa đối với người có công với nước được toàn xã hội quan tâm, đã huy động 6,33 tỷ đồng Quỹ Đền ơn đáp nghĩa, xây dựng 260 căn nhà tình nghĩa cho đối tượng chính sách.

Cải cách hành chính, cải cách tư pháp và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân được các ngành, các cấp quan tâm thực hiện và đạt nhiều tiến bộ./.

Nguồn: Cà Mau Online, 27/12/2013

Bài viết liên quan