Kiên Giang: Kết quả quan trắc môi trường đợt 12 năm 2019

Ngày 31/5/2019, Chi cục Chăn nuôi và Thú y đã tiến hành quan trắc môi trường đợt 12 năm 2019 tại 20 điểm đầu nguồn cấp nước cho các vùng nuôi tôm nước lợ trọng điểm của 09 huyện, thành phố trong tỉnh và 09 điểm ở 03 vùng nuôi cá lồng bè tập trung của các xã Hòn Nghệ, Tiên Hải, Nam Du. Kết quả phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước như sau (có Phụ lục chi tiết kèm theo):

Kiên Giang: Kết quả quan trắc môi trường đợt 12 năm 2019
Ảnh minh họa: Internet
1. Vùng U Minh Thượng

Nhiệt độ: 29 - 32oC, pH: 7,5 - 8,4, độ mặn: 4 - 29‰, độ trong: 20 - 45 cm, độ kiềm: 35,8 - 125,3 mg/l, oxy hòa tan (DO): 3,5 - 4,5 mg/l, ammonia: 0,009 - 0,08 mg/l, tiêu hao oxy sinh học (BOD5): 3,507 - 6,445 mg/l. Phần lớn các chỉ tiêu hóa, lý môi trường nước tại các điểm quan trắc đều nằm trong giới hạn cho phép. Ngoại trừ có 1/10 diểm có độ mặn thấp, 3/10 điểm độ kiềm thấp, 09/10 điểm hàm lượng nitrite vượt ngưỡng và 07/10 điểm có hàm lượng phosphate vượt ngưỡng.

2. Vùng Tây sông Hậu

Nhiệt độ: 32oC, pH: 7,8 - 7,9; độ trong: 36 - 38 cm, độ kiềm: 71,6 mg/l, hàm lượng oxy hòa tan (DO): 3,0 - 4,0 mg/l, nitrite: 0,01 - 0,15 mg/l, ammonia: 0 mg/l, phosphate 0,03 - 0,04 mg/l, tiêu hao oxy sinh học: 4,821 - 5,084 mg/l, phần lớn các yếu tố nói trên đều trong ngưỡng giới hạn cho phép đối với sự sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi. Ngoại trừ có 3/3 điểm có độ mặn thấp, 2/3 điểm có hàm lượng oxy hòa tan thấp, 1/3 điểm có hàm lượng nitrite cao vượt ngưỡng.

3. Vùng Tứ giác Long Xuyên

Nhiệt độ: 29 - 31oC, độ mặn: 17 - 30‰, pH: 7,4 - 8,0, độ trong: 25 - 50 cm, độ kiềm: 17,9 - 89,5 mg/l, oxy hòa tan (DO): 5,0 mg/l, ammonia: 0 - 0,03 mg/l, nitrite: 0 - 0,5 mg/l, phosphate: 0 - 0,5 mg/l, tiêu hao oxy sinh học (BOD5): 3,603 - 5,358 mg/l. Hầu hết thông số đo các chỉ tiêu lý hóa tại các điểm quan trắc nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép và thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của tôm nước lợ. Ngoại trừ có 2/7 điểm có độ kiềm thấp, 5/7 điểm có hàm lượng nitrite cao vượt ngưỡng và 3/7 điểm có hàm lượng photphat cao vượt ngưỡng.

4. Vùng nuôi cá lồng bè tập trung của xã Hòn Nghệ - Kiên Lương

Nhiệt độ: 31oC, độ mặn: 30‰, oxy hòa tan (DO): 6,8 - 7,0 mg/l, hàm lượng NH4+: 0 mg/l, hàm lượng nitrite: 0 mg/l, phosphate: 0 mg/l, hầu hết các chỉ tiêu quan trắc nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép và thích hợp cho cá nuôi lồng bè phát triển.

Mật độ vi khuẩn Vibrio.sp dao động từ 555 - 4.570 cfu/ml, vượt ngưỡng giới hạn cho phép đối với thủy sản nuôi tại 2/3 điểm quan trắc, không thích hợp cho cá nuôi lồng bè phát triển.

5. Vùng nuôi cá lồng bè tập trung của xã Tiên Hải - Tp. Hà Tiên

Nhiệt độ: 31 - 32oC, độ mặn: 28 - 29‰, oxy hòa tan (DO): 6,5 mg/l, hàm lượng NH4+: 0,25 mg/l, hàm lượng nitrite: 0,25 mg/l, phosphate: 0,1 mg/l, phần lớn các chỉ tiêu quan trắc nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép và thích hợp cho cá nuôi lồng bè phát triển. Ngoại trừ, hàm lượng nitrite vượt ngưỡng tại 3/3 điểm.

Mật độ vi khuẩn Vibrio.sp dao động từ 230 - 1.850 cfu/ml, vượt ngưỡng giới hạn cho phép đối với thủy sản nuôi tại 1/3 điểm quan trắc, không thích hợp cho cá nuôi lồng bè phát triển.

6. Vùng nuôi cá lồng bè tập trung của xã Nam Du - Kiên Hải

Nhiệt độ: 30oC, độ mặn: 30 - 31‰, oxy hòa tan (DO): 6,7 - 6,9 mg/l, hàm lượng NH4+: 0 mg/l, hàm lượng nitrite: 0 mg/l, phosphate: 0 mg/l, hầu hết các chỉ tiêu quan trắc nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép và thích hợp cho cá nuôi lồng bè phát triển.

Mật độ vi khuẩn Vibrio.sp dao động từ 245 - 445 cfu/ml, nằm trong ngưỡng giới hạn và thích hợp cho cá nuôi lồng bè phát triển.

7. Nhận định và khuyến cáo chung

* Nhận định:

- Tại một số điểm quan trắc vẫn còn tồn tại một số bất lợi, cần phải lưu ý, xử lý như: độ kiềm thấp (5/20 điểm); hàm lượng nitrite cao vượt ngưỡng (18/29 điểm), đặc biệt tại các kênh cấp nước ở vùng U Minh Thượng hàm lượng nitrite cao gấp 2-40 lần so với ngưỡng giới hạn cho phép đối với đời sống của động vật thủy sinh; hàm lượng phosphate cao vượt ngưỡng (10/29 điểm).

- Mật độ Vibrio tổng số giảm mạnh so với đợt quan trắc trước, vượt ngưỡng giới hạn cho phép đối với đời sống của động vật thủy sinh tại 8/29 điểm quan trắc (dao động từ 1.090 - 4.570 CFU/ml).

- Vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus hiện diện trong 17/20 kênh cấp nước được quan trắc, mật độ giảm mạnh so với đợt quan trắc trước, vượt ngưỡng 1.000 CFU/ml tại điểm quan trắc Thứ 7 Kinh Làng (An Biên) không thích hợp cho hoạt động nuôi tôm nước lợ.

* Giám sát dịch bệnh thụ động:

Từ ngày 18/5 - 31/5/2019 phát hiện thêm 02 ổ dịch bệnh Đốm trắng, 04 ổ dịch bệnh Hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm nuôi với diện tích thiệt hại là 6,61 ha. Từ đầu năm đến nay đã xảy ra 136 ổ dịch bệnh Đốm trắng và Hoại tử gan tụy cấp tính (tại 57 ấp, 26 xã, 9 huyện) với tổng diện tích tôm nuôi bị thiệt hại ghi nhận được là 1.647,08 ha (trong đó: WSD 234,04 ha, AHPND 60,54 ha, nguyên nhân khác 1.352,50 ha).

Chi cục đã xuất cấp miễn phí 16.850 kg hóa chất sát trùng Chlorine cho 88 hộ nuôi có tôm bị bệnh để bao vây, tiêu diệt mầm bệnh, hạn chế lây lan.

* Khuyến cáo:

(1) Đối với nuôi tôm nước lợ:

Hiện nay thời tiết đang đầu mùa mưa, xuất hiện nhiều những cơn với lượng lớn và thời gian mưa kéo dài làm biến động bất lợi các yếu tố môi trường trong ao nuôi, ảnh hưởng đến sức khỏe của tôm nuôi. Do đó, để bảo vệ diện tích nuôi tôm đã thả giống người nuôi cần phải thực hiện tốt:

- Cập nhật kết quả quan trắc, cảnh báo môi trường của Chi cục Chăn nuôi và Thú y Kiên Giang về chất lượng nước để lấy nước có chất lượng tốt vào ao.

- Cần bố trí ao chứa, lắng để xử lý nước thật kỹ trước khi đưa vào ao nuôi.

- Rải vôi xung quanh ao, bờ bao trước và sau cơn mưa để duy trì hệ đệm cũng như ổn định pH trong ao. Trong cơn mưa lớn cần tăng cường quạt nước, sục khí ao nuôi để xáo trộn nước hoặc rút bớt nước tầng mặt để tránh hiện tượng phân tầng. Sau cơn mưa cần giảm lượng thức ăn và bổ sung thêm các yếu tố vi lượng, khoáng, vitamin để tăng sức đề kháng cho tôm;

 - Đối với những vùng nuôi có mật độ vi khuẩn Vibrio tổng số, Vibrio parahaemolyticus ở trên các kênh cấp nước cao, sau khi lấy nước vào ao chứa, lắng cần xử lý diệt khuẩn thật kỹ bằng các loại hóa chất được phép lưu hành trước khi cấp vào ao nuôi.

- Duy trì: Độ kiềm từ 90 - 130 mg/l đối với tôm sú và 100 - 150 mg/l đối với tôm chân trắng; độ pH thích hợp cho tôm nuôi phát triển là 7,5 - 8,5 và biến thiên pH trong ngày không quá 0,5; hàm lượng nitrite phải <0,05 mg/l.

- Thường xuyên theo dõi tình hình sức khỏe của tôm, kiểm tra các yếu tố môi trường để kịp thời điều chỉnh nếu cần và khi phát hiện tôm nuôi bị bệnh hoặc biểu hiện bất thường nên báo ngay cho cán bộ thú y địa phương, các hộ nuôi xung quanh, tuyệt đối không được xả nước, tôm của ao nuôi bị bệnh ra ngoài môi trường nếu chưa qua xử lý để tránh lây lan trên diện rộng.

(2) Đối với các hộ nuôi cá lồng bè:

Để chủ động trong công tác phòng, chống dịch bệnh và hạn chế thiệt hại cho cá nuôi, Chi cục Chăn nuôi và Thú y hướng dẫn một số biện pháp như sau:

- Các địa phương có quy hoạch nuôi cá lồng bè ven biển, đảo cần thực hiện đúng quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

- Hướng dẫn người nuôi phải tăng cường giám sát chất lượng nguồn nước, tình hình dịch bệnh, thường xuyên theo dõi sức khỏe của cá, phân công người trực canh bè để kịp thời phát hiện các hiện tượng bất thường và đưa ra giải pháp ứng phó thích hợp nhằm hạn chế thiệt hại.

- Định kỳ 7 - 10 ngày tiến hành vệ sinh lưới lồng để loại bỏ rác, chất bẩn, các loại sinh vật bám trên lưới nhằm tăng khả năng lưu thông của nước và loại bỏ các loại vi khuẩn gây bệnh, bổ sung thêm vitamin C, khoáng vi lượng vào thức ăn cho cá ăn để nâng cao sức đề kháng, chống sốc.

- Định kỳ tắm cá bằng nước ngọt trong thời gian 30 phút hoặc tắm bằng nước ngọt có pha formol nồng độ 200ppm có sục khí liên tục trong thời gian tắm để loại bỏ vi khuẩn, kí sinh trùng, đỉa, rận bám trên cơ thể gây bệnh cho cá.

- Thực hiện thu gom rác thải sinh hoạt để đưa về nơi xử lý, không nên vứt bừa bãi xung quanh khu vực nuôi làm ô nhiễm môi trường vùng nuôi và tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn, kí sinh trùng phát triển gây bệnh cho cá;

- Khi có cá chết phải áp dụng các biện pháp nhằm tránh làm ô nhiễm môi trường và lây lan dịch bệnh như sau: thu gom cá chết mang lên bờ tiêu hủy bằng vôi bột, hóa chất, hoặc nấu chín, chôn lấp cẩn thận; tách riêng cá bệnh về khu vực nuôi riêng, cuối nguồn nước, áp dụng biện pháp điều trị phù hợp;

* Lưu ý: những ngày tới nước lớn sẽ kéo dài từ ngày 03/6/2019 đến ngày 08/6/2019, mực nước cao nhất là 1,3 m, xuất hiện từ 14 giờ 30 phút đến 20 giờ tùy theo ngày và từng vùng nuôi. Người nuôi tôm có thể chủ động lấy nước vào ao lắng, xử lý trước khi cấp nước mới vào ao nuôi tôm.

Trên đây là kết quả quan trắc môi trường đợt 12 - 2019, Chi cục Chăn nuôi và Thú y đề nghị các đơn vị liên quan có biện pháp phù hợp hỗ trợ thông báo, thông tin rộng đến các hộ nuôi tôm biết để có biện pháp xử lý thích hợp, chủ động trong sản xuất.

Cần trao đổi thêm thông tin liên hệ Phòng Quản lý dịch bệnh - Chi cục Chăn nuôi và Thú y, điện thoại 0297.800.115.

Chi cục Chăn nuôi Thú y Kiên Giang
Đăng ngày 05/06/2019
Nuôi trồng

FLOCponics: Sự tích hợp hoàn hảo của công nghệ biofloc và cây thủy canh

FLOCponics là một loại Aquaponics thay thế tích hợp công nghệ biofloc (BFT) với sản xuất cây trồng không sử dụng đất.

flocponics
• 15:51 07/03/2022

Mô hình nuôi ba ba lãi 300 triệu đồng/năm

Mô hình nuôi ba ba của ông Lương Thành Kỷ, ở thị trấn Búng Tàu, huyện Phụng Hiệp. Qua 14 năm phát triển, đến nay đàn ba ba sinh sản của ông Kỷ đã phát triển hơn 1.500 con, mỗi năm xuất bán ra thị trường từ 8.000-10.000 con giống, trừ hết các khoản chi phí, lợi nhuận gần 300 triệu đồng/năm.

Ba ba.
• 09:38 14/06/2021

Kinh tế ổn định nhờ nuôi ba ba sinh sản

Hơn 20 năm nuôi ba ba sinh sản, anh Nguyễn Đức Lợi, ấp Phước Thọ B, xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng có cuộc sống khấm khá. Gắn bó lâu năm với con ba ba một phần cũng vì sự yêu thích loài vật này, ba ba lại dễ nuôi, nhẹ công chăm sóc, thị trường tiêu thụ tốt, đem lại nguồn thu nhập ổn định cho gia đình anh.

• 15:40 03/03/2021

Thu trăm triệu đồng mỗi năm từ nuôi ba ba

Nuôi ba ba gai là một công việc đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn và kỹ thuật cao. Nhưng bằng ý chí, nghị lực, sự đam mê tận tụy với công việc cùng với áp dụng các kiến thức khoa học kỹ thuật mà ông Phạm Tất Đạt ở xã Yên Bình, thành phố Tam Điệp đã thành công, vươn lên trở thành triệu phú.

kỹ thuật sản xuất giống baba
• 10:00 30/05/2017

Bí quyết tập ăn từ nhỏ cho tôm

Thách thức lớn nhất đối với người nuôi tôm thẻ chân trắng hiện nay là tình trạng tôm thương phẩm thường chậm lớn, tiêu hóa kém khi phải ăn các loại thức ăn công nghiệp có hàm lượng đạm thực vật cao.

Tôm thẻ
• 11:54 14/01/2026

Xác định khung giờ tôm ăn mạnh nhất để giảm hệ số FCR

Trong bài toán kinh tế nuôi tôm, thức ăn chiếm tới hơn 50% tổng chi phí. Tuy nhiên, một sai lầm kinh điển mà nhiều người nuôi vẫn mắc phải là ép tôm ăn theo giờ giấc sinh hoạt của con người thay vì tuân theo đồng hồ sinh học của loài vật.

Tôm thẻ
• 09:00 13/01/2026

Mô hình nuôi cua trong hộp nhựa liệu có đáng để mạo hiểm?

Sự khan hiếm của cua lột tự nhiên cùng giá trị kinh tế vượt trội đã biến mô hình nuôi hộp nhựa ra đời như một bước tiến tất yếu, song thực tế triển khai vẫn còn nhiều thất bại khiến người nuôi chưa thực sự đặt trọn niềm tin.

Cua lột
• 12:01 11/01/2026

Ứng dụng công nghệ Nano Bubble trong nuôi trồng thủy sản

Trong bối cảnh nuôi trồng thủy sản thâm canh đối mặt với rủi ro dịch bệnh và chi phí năng lượng tăng cao, công nghệ Nano Bubble (bong bóng nano) đang nổi lên như một giải pháp đột phá. Không chỉ tối ưu hóa nồng độ oxy hòa tan, công nghệ này còn hỗ trợ xử lý ô nhiễm đáy ao, mở ra hướng đi bền vững cho ngành thủy sản.

Tôm
• 13:14 09/01/2026

Thủy sản Việt Nam lọt top 5 nhà cung cấp lớn nhất cho Thụy Sỹ

Việt Nam vừa chính thức trở thành nhà cung cấp thủy sản lớn thứ tư về lượng và thứ năm về giá trị cho Thụy Sỹ, một trong những thị trường cao cấp và khắt khe nhất thế giới.

Chế biến tôm
• 19:47 15/01/2026

Bí quyết tập ăn từ nhỏ cho tôm

Thách thức lớn nhất đối với người nuôi tôm thẻ chân trắng hiện nay là tình trạng tôm thương phẩm thường chậm lớn, tiêu hóa kém khi phải ăn các loại thức ăn công nghiệp có hàm lượng đạm thực vật cao.

Tôm thẻ
• 19:47 15/01/2026

Những điểm nhấn nổi bật của ngành thủy sản Việt Nam trong năm 2025

Năm 2025 khép lại với nhiều dấu ấn đáng nhớ: kim ngạch xuất khẩu lập kỷ lục mới bất chấp biến động toàn cầu, cùng hàng loạt thay đổi chính sách quan trọng. Dưới đây là 10 sự kiện tâm điểm đã định hình bức tranh toàn ngành thủy sản Việt Nam trong năm qua.

Thủy sản Việt Nam
• 19:47 15/01/2026

Biện pháp phòng và trị một số bệnh thường gặp trên cá rô phi

Cá rô phi là đối tượng nuôi chủ lực mang lại thu nhập ổn định cho nông dân. Tuy nhiên, việc nuôi thâm canh mật độ cao và ô nhiễm nguồn nước đang khiến dịch bệnh bùng phát mạnh. Nắm vững kiến thức về các bệnh thường gặp là yêu cầu bắt buộc đối với người nuôi chuyên nghiệp.

Cá rô phi
• 19:47 15/01/2026

Tôm nhân tạo (Lab-grown Shrimp): Triển vọng và rào cản chi phí?

Trong bối cảnh nguồn lợi tự nhiên suy giảm và áp lực môi trường gia tăng, tôm nuôi cấy tế bào (lab-grown shrimp) đang nổi lên như một giải pháp đột phá, trở thành một lựa chọn thay thế ngày càng phổ biến để sản xuất thực phẩm tốt hơn cho hành tinh.

Tôm
• 19:47 15/01/2026
Some text some message..