Kiểm tra độ pH ao nuôi tôm.
Một số lưu ý trong quản lý môi trường ao nuôi tôm vào mùa mưa
Nghề nuôi thủy sản nói chung và nuôi tôm nói riêng việc ảnh hưởng của thời tiết, nhất là xuất hiện những cơn mưa kéo dài sẽ làm cho môi trường ao nuôi biến động xấu, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và làm tôm nuôi dễ bộc phát bệnh (do tác nhân gây bệnh cơ hội tấn công) gây thiệt hại cho người dân. Vì vậy, trong tình hình hiện nay tùy vào điều kiện cụ thể, người nuôi cần áp dụng đồng bộ một số giải pháp về quản lý, chăm sóc ao nuôi tôm như sau
Độ pH: Thích hợp cho tôm từ 7,5 – 8,5 (dao động trong ngày ở mức thấp hơn 0,5). Nếu pH quá cao hoặc thấp đều bất lợi cho hoạt động sinh lý của tôm. Để tránh tình trạng pH thấp, người nuôi cần gây tảo và giữ màu nước thích hợp đảm bảo độ trong 30 – 40 cm. Trong quá trình nuôi, nếu pH < 7,5 cần bón vôi (CaCO3, Dolomite) với liều lượng 10 – 20 kg/1.000 m3 nước. Khi pH cao, cần sử dụng rĩ mật đường với liều lượng 3-5 kg/1.000 m3 kết hợp sử dụng vi sinh.
Độ kiềm tổng cộng – Alkalinity (mg CaCO3/l): Thích hợp cho nuôi tôm là từ 80 -120 mg/l. Người nuôi cần thường xuyên kiểm tra độ kiềm ít nhất 3 – 4 ngày 1 lần. Khi độ kiềm thấp, người nuôi sử dụng Dolomite với liều lượng 15 – 20 kg/1.000 m3 vào ban đêm cho đến khi đạt yêu cầu. Khắc phục độ kiềm cao, sử dụng EDTA với liều lượng 2 – 3 kg/1.000m3 vào ban đêm. Do tôm cần nhiều chất khoáng trong quá trình sinh trưởng nên nước ao tôm cần duy trì độ kiềm từ 80-120 mg/lít, bằng cách sử dụng vôi CaCO3 hoặc Dolomite và thường xuyên bổ sung khoáng cho ao nuôi vào ban đêm định kỳ 3 – 5 ngày/lần, giúp tôm nhanh cứng vỏ và lột xác đồng loạt. Khi lột xác, tôm yêu cầu ôxy gần gấp đôi, sau lột xác khoảng 3 – 4 giờ vỏ tôm mới cứng. Nếu tôm không hoàn tất việc cứng vỏ sau lột xác, vỏ mềm, tôm sẽ chết rất nhanh. Khi lột xác tôm cần khoáng chất cho hình thành vỏ. Người nuôi cần chú ý đến độ kiềm và khoáng chất trong ao nuôi.
Nông dân sử dụng vôi cho ao tôm sau khi mưa.
Oxy hòa tan (mg/l): Hàm lượng Oxy hòa tan thích hợp là từ 5 – 8 mg/l, nếu thấp dưới 4 mg/lít nước, tôm sử dụng thức ăn không hiệu quả, dễ nhiễm bệnh hoặc chết (Oxy hòa tan < 1,5 mg/l). Hàm lượng ôxy hòa tan trong ao cần được duy trì ≥ 4 ppm lúc 2 – 4 giờ sáng và đo cách đáy 30cm, cách bờ 3m.
Khí độc: Khí độc H2S được tạo thành do sự phân hủy các vật chất hữu cơ tích tụ ở đáy ao như xác tảo, rong, thức ăn thừa, bùn đen. Nồng độ H2S trong nước cho phép nhỏ hơn 0,03 mg/l, tính độc của H2S tăng cao khi độ pH của nước thấp. Hàm lượng cho phép NH3 trong ao nuôi nhỏ hơn 0,1mg/l và độc tính của NH3 tăng khi độ pH của nước cao. Do vậy, nếu hàm lượng khi độc trong ao tăng cao dễ làm tôm bị nhiễm bệnh dẫn đến chết đột ngột. Cho nên cần chủ động khống chế hàm lượng khí độc bằng các biện pháp sau: Cải tạo ao, cần sên vét kỹ đáy mương, trục hoặc xới rửa mặt ruộng theo đúng qui trình từ đầu vụ nuôi; Thường xuyên kiểm tra, theo dõi và định kỳ 10 – 15 ngày/lần bón các chế phẩm vi sinh xử lý nền đáy.
Độ mặn: tốt nhất là khoảng từ 10 – 25‰. Độ mặn nước quá cao, tôm nuôi chậm lớn và ngược lại khi độ mặn thấp, tôm bị mềm vỏ và tỷ lệ sống thấp. Cần bổ sung chất khoáng vào thức ăn cho tôm và bón vôi để tăng cường độ kiềm, độ cứng nước khi nuôi tôm trong điều kiện độ mặn thấp. Hạn chế để độ mặn thay đổi quá 5‰/ngày.
Kiểm tra độ mặn và pH của ao nuôi tôm.
Nhiệt độ: thích hợp cho tôm tăng trưởng dao động từ 26 – 300C. Để hạn chế nhiệt độ nước tăng cao hay biến động: Đối với nuôi tôm – lúa hay quảng canh cải tiến cần duy trì mực nước trên mặt ruộng ở mức từ 0,6 – 0,8m; Đối với thâm canh – bán thâm canh cần duy trì mực nước từ 1,2 – 1,4 m (trường hợp có che lưới lan thì giữ độ sâu 0,7 – 1,0 m) và duy trì ổn định màu nước, ổn định độ trong của nước từ 30 – 40 cm. Khi nhiệt độ nước ao tăng lên trên 340C, cần giảm thức ăn, bổ sung Vitamin C vào thức ăn; đồng thời tăng thời gian chạy quạt nước, sục khí. Khi nhiệt độ nước ao giảm xuống dưới 240C, có hiện tượng tôm vùi đầu, phải giảm lượng thức ăn và bổ sung Vitamin C, B – glucan, khoáng chất, vi sinh đường ruột vào thức ăn, để tăng sức đề kháng.
Nguồn: Trung tâm Khuyến nông An Giang