Phân tích đặc điểm sinh học và yêu cầu kỹ thuật trong nuôi trồng
Cá chim vây vàng sở hữu những đặc tính sinh học lý tưởng cho việc nuôi thương phẩm. Chúng có khả năng thích nghi với một phổ độ mặn rộng từ 10 đến 20% và chịu được sự biến đổi của nhiệt độ trong khoảng 26-32°C.
Mô hình nuôi trong ao đất là phổ biến nhất, với diện tích tối ưu từ 2.000 đến 5.000 m² và độ sâu mực nước từ 1,2 đến 1,5 m. Quy trình cải tạo ao bắt đầu bằng việc tát cạn, vét bùn và sử dụng vôi bột với liều lượng 10-20 kg/100 m² để khử trùng và ổn định pH. Môi trường nước phải được duy trì trong ngưỡng tối ưu với độ pH từ 7,5 đến 8,5 và hàm lượng oxy hòa tan từ 5 đến 7 mg/l, đòi hỏi việc thay nước định kỳ khoảng 20-50% hai lần mỗi tuần.
Một trong những bước tiến quan trọng nhất của ngành này là Việt Nam đã chủ động được một phần đáng kể nguồn giống, với 55% nhu cầu đã được đáp ứng bởi các cơ sở sản xuất trong nước, giúp giảm sự phụ thuộc và chi phí so với việc nhập khẩu. Nên lựa chọn con giống khỏe mạnh, có kích cỡ đồng đều từ 8-10cm, mật độ thả được khuyến nghị là 1-2 con/m², một mật độ tương đối thấp nhằm đảm bảo không gian cho cá phát triển.
Chế độ cho ăn chủ yếu dựa vào thức ăn công nghiệp dạng viên nổi có hàm lượng đạm rất cao từ 40-45% và lipid từ 12-15%. Khẩu phần ăn hàng ngày được tính theo tỷ lệ trọng lượng thân, bắt đầu từ 3-5% ở giai đoạn đầu và giảm dần xuống 1,5-2% khi cá đạt trọng lượng trên 250g.
Việt Nam đã làm chủ được phần lớn nguồn giống cá chim vây vàng. Ảnh: Thuỷ sản Ngọc Thuỷ
Thực trạng phát triển và các mô hình thành công
Sự thành công của ngành nuôi cá chim vây vàng được thể hiện rõ nét qua các mô hình hiệu quả tại nhiều địa phương. Cụ thể tại Hà Tĩnh, các mô hình nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP đã được triển khai thành công, mang lại thu nhập ổn định lên tới 600 triệu đồng mỗi vụ. Trong khi đó, tại Quảng Ninh, việc ứng dụng công nghệ lồng HDPE hiện đại tại Vân Đồn đã giúp cá đạt trọng lượng 0,7-1 kg/con chỉ sau 10 tháng, với tỷ lệ sống trên 72% và lợi nhuận tăng 15% so với phương pháp truyền thống. Đặc biệt tại Khánh Hòa, các mô hình nuôi công nghiệp trong lồng tại Vịnh Vân Phong, sử dụng thức ăn nhập khẩu, đã đạt được tốc độ tăng trưởng ấn tượng, với cá đạt trọng lượng 716,7g/con chỉ sau 155 ngày.
Với giá bán thương phẩm dao động từ 100.000 đến 150.000 đồng/kg, người nuôi có thể đạt biên lợi nhuận ròng từ 40.000-80.000 đồng/kg. Chất lượng thịt cá thơm ngon, giàu dinh dưỡng với hàm lượng protein lên tới 43% đã giúp sản phẩm này được ưa chuộng mạnh mẽ tại thị trường nội địa và có tiềm năng xuất khẩu lớn sang các thị trường khó tính như Nhật Bản, Trung Quốc, và Singapore.
Cá chim vây vàng có tiềm năng xuất khẩu lớn. Ảnh: Tạp chí Thuỷ sản.
Những thách thức và định hướng phát triển bền vững
Bên cạnh những thành công, ngành nuôi cá chim vây vàng vẫn phải đối mặt với một số thách thức. Vấn đề lớn nhất là dịch bệnh, đặc biệt là các bệnh do ký sinh trùng như trùng bánh xe, trùng quả dưa, thường xảy ra khi nhiệt độ nước xuống thấp. Vấn đề thứ hai là mặc dù đã chủ động được một phần, 45% nhu cầu giống vẫn phải phụ thuộc vào nhập khẩu, gây ra sự biến động về giá và chất lượng.
Để đưa ngành này phát triển lên một tầm cao mới, hướng đi trong tương lai sẽ tập trung vào việc làm chủ hoàn toàn công nghệ sản xuất giống trong nước để ổn định nguồn cung và hạ giá thành. Song song đó, việc nhân rộng các mô hình nuôi công nghệ cao như lồng HDPE và tuân thủ các tiêu chuẩn VietGAP sẽ giúp nâng cao năng suất, bảo vệ môi trường và tạo ra sản phẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Cá chim vẫn còn nhiều tiềm năng phát triển. Ảnh: Trung tâm Khuyến nông Hà Tĩnh
Cá chim vây vàng đã và đang chứng tỏ mình là một đối tượng nuôi trồng thủy sản chiến lược, một giải pháp thay thế hiệu quả và bền vững cho các mô hình truyền thống. Với nền tảng kỹ thuật ngày càng được hoàn thiện, nguồn giống trong nước đang dần được chủ động và một thị trường tiêu thụ rộng lớn, ngành nuôi cá chim vây vàng chắc chắn sẽ tiếp tục phát triển, đóng góp quan trọng vào sự thịnh vượng của các cộng đồng ven biển và khẳng định vị thế của thủy sản Việt Nam trên trường quốc tế.