Danh mục

Tin tức

Giá cả

eShop

Việc làm

Học tập

Kết nối

Farmext

Nuôi tôm ở Ecuador

Khu nuôi tôm ở Ecuador

Ngành tôm Việt Nam lúng túng trước cuộc tăng tốc của Ecuador

01:41 21/09/2026 Phan Giang 19 phút đọc

Ecuador từng được nhìn nhận chủ yếu như một nguồn cung tôm nguyên liệu giá rẻ: ao lớn, mật độ thấp, sản lượng khổng lồ và giá thành rất khó cạnh tranh. Nhưng vài năm gần đây, câu chuyện đã thay đổi. Quốc gia Nam Mỹ này không chỉ tiếp tục mở rộng sản lượng mà còn tiến nhanh vào tôm bóc vỏ, tôm đuôi và các sản phẩm sơ chế, chế biến - chính những phân khúc vốn được xem là lợi thế của Việt Nam.

Năm 2025, Ecuador xuất khẩu khoảng 3,07 tỷ pound tôm, tương đương gần 1,39 triệu tấn, thu về 7,47 tỷ USD. So với năm trước, lượng xuất khẩu tăng 15,1% nhưng giá trị tăng tới 23,2%. Đáng chú ý hơn, tăng trưởng tại Mỹ đến ngày càng nhiều từ tôm bóc vỏ, tôm đuôi và các sản phẩm có mức độ chế biến cao hơn.

Việt Nam không hề đứng yên. Xuất khẩu tôm năm 2025 cũng lập kỷ lục 4,6 tỷ USD, tăng 19%; tám tháng đầu năm 2026 tiếp tục đạt khoảng 3,3 tỷ USD, tăng 12%. Nhưng phía sau những con số tích cực ấy là một vấn đề khó hơn: Việt Nam vẫn chưa tìm được mô hình sản xuất có thể cạnh tranh về chi phí với Ecuador, trong khi khoảng cách ở đầu ra đang dần bị đối thủ thu hẹp.

Biểu đồ cột so sánh giá trị xuất khẩu tôm giữa Việt Nam và Ecuador giai đoạn 2021-2025 tính bằng tỷ USD.
Biểu đồ giá trị xuất khẩu tôm của Việt Nam và Ecuador giai đoạn 2021-2025.

Nhìn thấy cách Ecuador làm, nhưng không dễ làm theo

Khác biệt dễ thấy nhất nằm ngay dưới ao nuôi.

Các số liệu được công bố tại VietShrimp cho thấy tôm Ecuador thường được nuôi ở mật độ khoảng 12–30 con/m², trong khi nhiều mô hình thâm canh tại Việt Nam có thể lên tới 120–500 con/m². Giá thành tôm cỡ 50 con/kg tại Ecuador từng được ước tính chỉ khoảng 2,2–2,4 USD/kg, so với 3,5–4,2 USD/kg ở Việt Nam. Những benchmark gần đây vẫn ghi nhận khoảng cách lớn, khoảng 2,4 USD/kg tại Ecuador so với 4,25 USD/kg tại Việt Nam.

Nhìn vào những con số này, giải pháp tưởng như khá đơn giản: giảm mật độ, làm ao lớn hơn và nuôi giống Ecuador.

Nhưng thực tế lại không đơn giản như vậy.

Minh Phú là một trong những doanh nghiệp đã theo đuổi bài toán này nhiều năm. Ông Lê Văn Quang từng cho biết doanh nghiệp muốn tiếp cận theo hướng của Ecuador: chọn tôm có khả năng chống chịu tốt hơn và nuôi phù hợp với sức tải môi trường, thay vì tiếp tục đẩy mật độ lên cao. Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận Minh Phú đã nhiều năm muốn đi theo hướng này nhưng chưa thể thực hiện được như mong muốn.

Đó cũng chính là điểm cho thấy sự lúng túng lớn nhất của ngành tôm Việt Nam: biết phải giảm chi phí, biết phải giảm rủi ro và biết không thể tiếp tục tăng mật độ mãi, nhưng con đường chuyển sang một mô hình khác lại bị chặn bởi chính những điều kiện sản xuất đã hình thành nhiều năm.

Quỹ đất lớn chưa đủ để trở thành Ecuador

Một cách nhìn phổ biến cho rằng các tập đoàn có hàng trăm hay hàng nghìn hecta hoàn toàn có thể xây dựng những trang trại lớn tương tự Ecuador. Nhưng diện tích chỉ giải quyết được một phần vấn đề.

Nuôi mật độ thấp chỉ thực sự tạo ra lợi thế khi cả hệ thống môi trường, con giống, quản lý dịch bệnh và chi phí vận hành cùng phù hợp với mật độ đó.

Tại Việt Nam, áp lực dịch bệnh và chất lượng nguồn nước khiến người nuôi phải đầu tư ngày càng nhiều cho ao lắng, xử lý nước, quạt khí, vi sinh, hóa chất và các biện pháp an toàn sinh học. Mật độ càng cao, hệ thống càng phức tạp. Nhưng nếu giảm mật độ mà vẫn giữ nguyên một cơ sở hạ tầng đắt tiền như vậy, chi phí khấu hao trên mỗi kilogram tôm chưa chắc giảm tương ứng.

Đây là nghịch lý rất khó tháo gỡ.

Ecuador có thể dùng diện tích lớn để nuôi thưa và tận dụng tốt hơn sức tải tự nhiên. Việt Nam lại hình thành một hệ thống thâm canh nhằm tạo nhiều sản lượng nhất trên diện tích nhỏ. Khi muốn quay ngược trở lại mật độ thấp hơn, người nuôi vẫn đang mang trên mình toàn bộ chi phí của một hệ thống được thiết kế cho nuôi thâm canh.

Vì vậy, giảm mật độ không đồng nghĩa với giảm giá thành.

Bài toán thực sự là phải đồng thời giảm được điện, thức ăn, xử lý nước, hao hụt và chi phí cố định. Nếu chỉ thả ít tôm hơn vào một hệ thống vốn đã đắt đỏ, kết quả thậm chí có thể ngược lại.

Trang trại lớn cũng gặp bài toán con người

Một khó khăn khác ít được nhắc đến là quản trị.

Minh Phú từng sở hữu các vùng nuôi khoảng 1.200 ha nhưng lãnh đạo doanh nghiệp cho rằng ngay cả khi khai thác toàn bộ diện tích này, lượng nguyên liệu tự nuôi cũng chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu nhà máy. Quan trọng hơn, doanh nghiệp nhận thấy việc tự tổ chức nuôi quy mô lớn không hẳn hiệu quả hơn hộ dân.

Ông Lê Văn Quang từng chia sẻ khá thẳng rằng người nuôi hộ gia đình chăm ao như tài sản của chính mình, trong khi với lao động làm thuê, việc duy trì mức độ theo sát ao nuôi cả ngày lẫn đêm khó hơn rất nhiều. Minh Phú vì vậy xác định liên kết với người nuôi, giúp họ tăng tỷ lệ thành công để tạo nguồn nguyên liệu có thể hiệu quả hơn việc doanh nghiệp tự nuôi toàn bộ.

Điều này tạo nên một nghịch lý rất Việt Nam.

Hộ nhỏ có động lực chăm ao rất cao nhưng thiếu quy mô, vốn, dữ liệu và sức mua. Doanh nghiệp lớn có vốn, công nghệ và diện tích nhưng lại phải giải bài toán quản trị hàng nghìn ao nuôi bằng lao động làm thuê.

Trong khi đó, lợi thế của Ecuador không đơn giản nằm ở ao lớn. Ngành tôm nước này đã phát triển theo hướng chuỗi ngày càng tích hợp, từ con giống, thức ăn, trang trại, nhà máy đến thị trường. Chính quy mô và khả năng tổ chức này mới biến mật độ thấp thành lợi thế kinh tế.

Đây là thứ khó sao chép hơn rất nhiều so với việc đào một ao lớn.

Khi Việt Nam còn tìm cách giảm giá thành, Ecuador đã đi thêm một bước

Trong nhiều năm, ngành tôm Việt Nam vẫn còn một vùng tương đối an toàn: chế biến sâu.

Nếu không thể cạnh tranh với Ecuador ở tôm nguyên liệu, Việt Nam có thể mua nguyên liệu, tận dụng tay nghề chế biến và mạng lưới khách hàng để bán các sản phẩm có giá trị cao hơn. Tôm bóc vỏ, hấp chín, tẩm bột, tẩm gia vị, ready-to-cook hay các sản phẩm thiết kế riêng cho từng hệ thống bán lẻ là thế mạnh lâu năm của doanh nghiệp Việt.

Nhưng khoảng cách này đang thu hẹp.

Tại Mỹ, Ecuador đang tăng nhanh các sản phẩm bóc vỏ và bán thành phẩm. Tại EU, nơi sản phẩm giá trị gia tăng chiếm hơn một nửa giá trị xuất khẩu tôm của Việt Nam, VASEP cũng ghi nhận Ecuador đang đầu tư nhanh vào bóc vỏ và chế biến. Tám tháng đầu năm 2025, Ecuador xuất sang EU hơn 160.000 tấn tôm, trong khi Việt Nam khoảng 35.000 tấn.

Đến năm 2026, VASEP tiếp tục cảnh báo lợi thế chế biến của Việt Nam không còn là điều mặc nhiên: Ecuador đang mở rộng năng lực peeling và processing, trong khi người mua Mỹ ngày càng quan tâm đến tôm bóc vỏ, chế biến và tiện lợi.

Đây mới là sức ép đáng lo.

Ecuador không cần trở thành Việt Nam trong một đêm. Họ chỉ cần dịch chuyển từng phần từ tôm nguyên liệu sang sơ chế và chế biến, trong khi vẫn giữ được lợi thế khổng lồ về giá nguyên liệu.

Khi đó, khoảng trống để Việt Nam bù lại giá thành nuôi cao bằng lợi thế chế biến sẽ ngày càng nhỏ.

Việt Nam không thể trở thành một Ecuador thứ hai

Điều ngành tôm Việt Nam cần có lẽ không phải là cố sao chép nguyên bản mô hình Ecuador.

Điều kiện đất đai khác nhau, cấu trúc hộ nuôi khác nhau, môi trường khác nhau và hệ thống chuỗi cung ứng cũng khác nhau. Một mô hình thành công trên những ao hàng chục hay hàng trăm hecta tại Ecuador không thể chỉ thu nhỏ rồi đưa vào Đồng bằng sông Cửu Long.

Nhưng Ecuador đang buộc Việt Nam phải nhìn lại một câu hỏi nền tảng hơn: mỗi kilogram tôm đang phải gánh quá nhiều chi phí và quá nhiều rủi ro.

Nuôi mật độ cao từng là cách Việt Nam giải bài toán ít đất. Nhưng khi mật độ cao kéo theo dịch bệnh, điện, thức ăn, xử lý nước và tỷ lệ thất bại lớn, sản lượng lý thuyết cao chưa chắc tạo ra giá thành thấp.

Ở chiều ngược lại, chỉ giảm mật độ cũng không phải lời giải nếu người nuôi vẫn phải duy trì toàn bộ hạ tầng và chi phí của hệ thống cũ.

Con đường khả thi hơn nằm ở việc tìm mức nuôi vừa với sức tải của từng vùng và năng lực quản lý của từng trang trại, đồng thời giảm biến động bằng con giống tốt hơn, dữ liệu, xét nghiệm, cảnh báo môi trường, tự động hóa và quản trị chi phí. Với hàng vạn hộ nuôi nhỏ, công nghệ và mô hình liên kết cũng phải giúp tạo ra hiệu quả của quy mô mà không nhất thiết biến tất cả thành những trang trại khổng lồ.

Ở đầu ra, chế biến sâu vẫn là lợi thế lớn, nhưng không thể tiếp tục được xem là chiếc “hào” bảo vệ vĩnh viễn. Khi Ecuador đang tiến vào chính phân khúc này, Việt Nam phải đi sâu hơn vào những thứ khó sao chép: sản phẩm phức tạp, chất lượng ổn định, truy xuất nguồn gốc, sản xuất theo yêu cầu từng khách hàng, tôm sinh thái và những chuỗi cung ứng có giá trị cao.

Cuộc cạnh tranh với Ecuador vì thế không còn đơn giản là ai nuôi được nhiều tôm hơn.

Ecuador đang chứng minh một mô hình có thể đồng thời mở rộng sản lượng, giữ giá thành thấp và từng bước nâng mức độ chế biến. Việt Nam vẫn có những lợi thế riêng và xuất khẩu vẫn tăng, nhưng đang phải giải cùng lúc ba bài toán khó: giảm giá thành ở ao nuôi, tổ chức lại một hệ thống sản xuất phân mảnh và giữ khoảng cách ở chế biến sâu.

Sự lúng túng hiện nay bắt nguồn từ chính điểm đó: công thức cũ chưa thể tiếp tục kéo dài, còn công thức mới vẫn chưa được định hình đủ rõ và đủ lớn để nhân rộng.

Ecuador càng tăng tốc, khoảng thời gian để ngành tôm Việt Nam tìm ra công thức của riêng mình càng ngắn lại.Ngành tôm Việt Nam lúng túng trước cuộc tăng tốc của Ecuador

Ecuador từng được nhìn nhận chủ yếu như một nguồn cung tôm nguyên liệu giá rẻ: ao lớn, mật độ thấp, sản lượng khổng lồ và giá thành rất khó cạnh tranh. Nhưng vài năm gần đây, câu chuyện đã thay đổi. Quốc gia Nam Mỹ này không chỉ tiếp tục mở rộng sản lượng mà còn tiến nhanh vào tôm bóc vỏ, tôm đuôi và các sản phẩm sơ chế, chế biến – chính những phân khúc vốn được xem là lợi thế của Việt Nam.

Năm 2025, Ecuador xuất khẩu khoảng 3,07 tỷ pound tôm, tương đương gần 1,39 triệu tấn, thu về 7,47 tỷ USD. So với năm trước, lượng xuất khẩu tăng 15,1% nhưng giá trị tăng tới 23,2%. Đáng chú ý hơn, tăng trưởng tại Mỹ đến ngày càng nhiều từ tôm bóc vỏ, tôm đuôi và các sản phẩm có mức độ chế biến cao hơn.

Việt Nam không hề đứng yên. Xuất khẩu tôm năm 2025 cũng lập kỷ lục 4,6 tỷ USD, tăng 19%; tám tháng đầu năm 2026 tiếp tục đạt khoảng 3,3 tỷ USD, tăng 12%. Nhưng phía sau những con số tích cực ấy là một vấn đề khó hơn: Việt Nam vẫn chưa tìm được mô hình sản xuất có thể cạnh tranh về chi phí với Ecuador, trong khi khoảng cách ở đầu ra đang dần bị đối thủ thu hẹp.

Nhìn thấy cách Ecuador làm, nhưng không dễ làm theo

Khác biệt dễ thấy nhất nằm ngay dưới ao nuôi.

Các số liệu được công bố tại VietShrimp cho thấy tôm Ecuador thường được nuôi ở mật độ khoảng 12-30 con/m², trong khi nhiều mô hình thâm canh tại Việt Nam có thể lên tới 120-500 con/m². Giá thành tôm cỡ 50 con/kg tại Ecuador từng được ước tính chỉ khoảng 2,2-2,4 USD/kg, so với 3,5-4,2 USD/kg ở Việt Nam. Những benchmark gần đây vẫn ghi nhận khoảng cách lớn, khoảng 2,4 USD/kg tại Ecuador so với 4,25 USD/kg tại Việt Nam.

Nhìn vào những con số này, giải pháp tưởng như khá đơn giản: giảm mật độ, làm ao lớn hơn và nuôi giống Ecuador.

Nhưng thực tế lại không đơn giản như vậy.

Minh Phú là một trong những doanh nghiệp đã theo đuổi bài toán này nhiều năm. Ông Lê Văn Quang từng cho biết doanh nghiệp muốn tiếp cận theo hướng của Ecuador: chọn tôm có khả năng chống chịu tốt hơn và nuôi phù hợp với sức tải môi trường, thay vì tiếp tục đẩy mật độ lên cao. Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận Minh Phú đã nhiều năm muốn đi theo hướng này nhưng chưa thể thực hiện được như mong muốn.

Đó cũng chính là điểm cho thấy sự lúng túng lớn nhất của ngành tôm Việt Nam: biết phải giảm chi phí, biết phải giảm rủi ro và biết không thể tiếp tục tăng mật độ mãi, nhưng con đường chuyển sang một mô hình khác lại bị chặn bởi chính những điều kiện sản xuất đã hình thành nhiều năm.

Quỹ đất lớn chưa đủ để trở thành Ecuador

Một cách nhìn phổ biến cho rằng các tập đoàn có hàng trăm hay hàng nghìn hecta hoàn toàn có thể xây dựng những trang trại lớn tương tự Ecuador. Nhưng diện tích chỉ giải quyết được một phần vấn đề.

Nuôi mật độ thấp chỉ thực sự tạo ra lợi thế khi cả hệ thống môi trường, con giống, quản lý dịch bệnh và chi phí vận hành cùng phù hợp với mật độ đó.

Tại Việt Nam, áp lực dịch bệnh và chất lượng nguồn nước khiến người nuôi phải đầu tư ngày càng nhiều cho ao lắng, xử lý nước, quạt khí, vi sinh, hóa chất và các biện pháp an toàn sinh học. Mật độ càng cao, hệ thống càng phức tạp. Nhưng nếu giảm mật độ mà vẫn giữ nguyên một cơ sở hạ tầng đắt tiền như vậy, chi phí khấu hao trên mỗi kilogram tôm chưa chắc giảm tương ứng.

Đây là nghịch lý rất khó tháo gỡ.

Ecuador có thể dùng diện tích lớn để nuôi thưa và tận dụng tốt hơn sức tải tự nhiên. Việt Nam lại hình thành một hệ thống thâm canh nhằm tạo nhiều sản lượng nhất trên diện tích nhỏ. Khi muốn quay ngược trở lại mật độ thấp hơn, người nuôi vẫn đang mang trên mình toàn bộ chi phí của một hệ thống được thiết kế cho nuôi thâm canh.

Vì vậy, giảm mật độ không đồng nghĩa với giảm giá thành.

Bài toán thực sự là phải đồng thời giảm được điện, thức ăn, xử lý nước, hao hụt và chi phí cố định. Nếu chỉ thả ít tôm hơn vào một hệ thống vốn đã đắt đỏ, kết quả thậm chí có thể ngược lại.

Trang trại lớn cũng gặp bài toán con người

Một khó khăn khác ít được nhắc đến là quản trị.

Minh Phú từng sở hữu các vùng nuôi khoảng 1.200 ha nhưng lãnh đạo doanh nghiệp cho rằng ngay cả khi khai thác toàn bộ diện tích này, lượng nguyên liệu tự nuôi cũng chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu nhà máy. Quan trọng hơn, doanh nghiệp nhận thấy việc tự tổ chức nuôi quy mô lớn không hẳn hiệu quả hơn hộ dân.

Ông Lê Văn Quang từng chia sẻ khá thẳng rằng người nuôi hộ gia đình chăm ao như tài sản của chính mình, trong khi với lao động làm thuê, việc duy trì mức độ theo sát ao nuôi cả ngày lẫn đêm khó hơn rất nhiều. Minh Phú vì vậy xác định liên kết với người nuôi, giúp họ tăng tỷ lệ thành công để tạo nguồn nguyên liệu có thể hiệu quả hơn việc doanh nghiệp tự nuôi toàn bộ.

Điều này tạo nên một nghịch lý rất Việt Nam.

Hộ nhỏ có động lực chăm ao rất cao nhưng thiếu quy mô, vốn, dữ liệu và sức mua. Doanh nghiệp lớn có vốn, công nghệ và diện tích nhưng lại phải giải bài toán quản trị hàng nghìn ao nuôi bằng lao động làm thuê.

Trong khi đó, lợi thế của Ecuador không đơn giản nằm ở ao lớn. Ngành tôm nước này đã phát triển theo hướng chuỗi ngày càng tích hợp, từ con giống, thức ăn, trang trại, nhà máy đến thị trường. Chính quy mô và khả năng tổ chức này mới biến mật độ thấp thành lợi thế kinh tế.

Đây là thứ khó sao chép hơn rất nhiều so với việc đào một ao lớn.

Khi Việt Nam còn tìm cách giảm giá thành, Ecuador đã đi thêm một bước

Trong nhiều năm, ngành tôm Việt Nam vẫn còn một vùng tương đối an toàn: chế biến sâu.

Nếu không thể cạnh tranh với Ecuador ở tôm nguyên liệu, Việt Nam có thể mua nguyên liệu, tận dụng tay nghề chế biến và mạng lưới khách hàng để bán các sản phẩm có giá trị cao hơn. Tôm bóc vỏ, hấp chín, tẩm bột, tẩm gia vị, ready-to-cook hay các sản phẩm thiết kế riêng cho từng hệ thống bán lẻ là thế mạnh lâu năm của doanh nghiệp Việt.

Nhưng khoảng cách này đang thu hẹp.

Tại Mỹ, Ecuador đang tăng nhanh các sản phẩm bóc vỏ và bán thành phẩm. Tại EU, nơi sản phẩm giá trị gia tăng chiếm hơn một nửa giá trị xuất khẩu tôm của Việt Nam, VASEP cũng ghi nhận Ecuador đang đầu tư nhanh vào bóc vỏ và chế biến. Tám tháng đầu năm 2025, Ecuador xuất sang EU hơn 160.000 tấn tôm, trong khi Việt Nam khoảng 35.000 tấn.

Đến năm 2026, VASEP tiếp tục cảnh báo lợi thế chế biến của Việt Nam không còn là điều mặc nhiên: Ecuador đang mở rộng năng lực peeling và processing, trong khi người mua Mỹ ngày càng quan tâm đến tôm bóc vỏ, chế biến và tiện lợi.

Đây mới là sức ép đáng lo.

Ecuador không cần trở thành Việt Nam trong một đêm. Họ chỉ cần dịch chuyển từng phần từ tôm nguyên liệu sang sơ chế và chế biến, trong khi vẫn giữ được lợi thế khổng lồ về giá nguyên liệu.

Khi đó, khoảng trống để Việt Nam bù lại giá thành nuôi cao bằng lợi thế chế biến sẽ ngày càng nhỏ.

Việt Nam không thể trở thành một Ecuador thứ hai

Điều ngành tôm Việt Nam cần có lẽ không phải là cố sao chép nguyên bản mô hình Ecuador.

Điều kiện đất đai khác nhau, cấu trúc hộ nuôi khác nhau, môi trường khác nhau và hệ thống chuỗi cung ứng cũng khác nhau. Một mô hình thành công trên những ao hàng chục hay hàng trăm hecta tại Ecuador không thể chỉ thu nhỏ rồi đưa vào Đồng bằng sông Cửu Long.

Nhưng Ecuador đang buộc Việt Nam phải nhìn lại một câu hỏi nền tảng hơn. Mỗi kilogram tôm đang phải gánh quá nhiều chi phí và quá nhiều rủi ro.

Nuôi mật độ cao từng là cách Việt Nam giải bài toán ít đất. Nhưng khi mật độ cao kéo theo dịch bệnh, điện, thức ăn, xử lý nước và tỷ lệ thất bại lớn, sản lượng lý thuyết cao chưa chắc tạo ra giá thành thấp.

Ở chiều ngược lại, chỉ giảm mật độ cũng không phải lời giải nếu người nuôi vẫn phải duy trì toàn bộ hạ tầng và chi phí của hệ thống cũ.

Con đường khả thi hơn nằm ở việc tìm mức nuôi vừa với sức tải của từng vùng và năng lực quản lý của từng trang trại, đồng thời giảm biến động bằng con giống tốt hơn, dữ liệu, xét nghiệm, cảnh báo môi trường, tự động hóa và quản trị chi phí. Với hàng vạn hộ nuôi nhỏ, công nghệ và mô hình liên kết cũng phải giúp tạo ra hiệu quả của quy mô mà không nhất thiết biến tất cả thành những trang trại khổng lồ.

Ở đầu ra, chế biến sâu vẫn là lợi thế lớn, nhưng không thể tiếp tục được xem là chiếc “hào” bảo vệ vĩnh viễn. Khi Ecuador đang tiến vào chính phân khúc này, Việt Nam phải đi sâu hơn vào những thứ khó sao chép: sản phẩm phức tạp, chất lượng ổn định, truy xuất nguồn gốc, sản xuất theo yêu cầu từng khách hàng, tôm sinh thái và những chuỗi cung ứng có giá trị cao.

Cuộc cạnh tranh với Ecuador vì thế không còn đơn giản là ai nuôi được nhiều tôm hơn.

Ecuador đang chứng minh một mô hình có thể đồng thời mở rộng sản lượng, giữ giá thành thấp và từng bước nâng mức độ chế biến. Việt Nam vẫn có những lợi thế riêng và xuất khẩu vẫn tăng, nhưng đang phải giải cùng lúc ba bài toán khó: giảm giá thành ở ao nuôi, tổ chức lại một hệ thống sản xuất phân mảnh và giữ khoảng cách ở chế biến sâu.

Sự lúng túng hiện nay bắt nguồn từ chính điểm đó: công thức cũ chưa thể tiếp tục kéo dài, còn công thức mới vẫn chưa được định hình đủ rõ và đủ lớn để nhân rộng.

Ecuador càng tăng tốc, khoảng thời gian để ngành tôm Việt Nam tìm ra công thức của riêng mình càng ngắn lại.

P

Phan Giang

Cộng tác viên chuyên môn

Xem thêm bài viết →