Nguyên nhân gây chậm lớn trên tôm và biện pháp phòng trị

Bài viết cung cấp những nguyên nhân làm tôm nuôi chậm lớn để bà con phòng tránh và nâng cao hiệu quả vụ nuôi.

Nguyên nhân gây chậm lớn trên tôm và biện pháp phòng trị
Môi trường biến động là một trong những nguyên nhân gây stress và làm tôm chậm trăng trưởng. Ảnh: Naresh Kumar Dewangan và Ayyaru Gopalakrishnan 2016
1. Tôm giống chất lượng kém

Do tôm bố mẹ cho đẻ nhiều lần, quá trình chăm sóc, vận chuyển chưa đúng cách, tôm nhiễm mầm bệnh. 

Giải pháp

->Lựa chọn con giống của nhà sản xuất có uy tín.

->Kiểm tra bệnh trên tôm trước khi thả nuôi, hoặc đưa mẫu tôm tới trung tâm kiểm dịch tôm giống.

2. Thức ăn chất lượng kém:

Thức ăn là một trong những yếu tố quan trọng để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi, thức ăn có đầy đủ dinh dưỡng giúp tôm nuôi tăng trưởng tốt, lớn nhanh và có sức đề kháng với mầm bệnh. Tuy nhiên vì chưa có nhiều thông tin về sản phẩm thức ăn nên vẫn còn tình trạng thức ăn giả, thức ăn kém chất lượng trên thị trường. Người nuôi vô tình mua phải những loại thức ăn này do đó cung cấp dinh dưỡng không đầy đủ cho tôm, từ đó làm tôm chậm lớn.

Ngoài ra thức ăn nuôi tôm cần được bảo quản đúng cách, tránh đặt dưới sàn nhà ẩm ướt hoặc ánh nắng trực tiếp chiếu vào sẽ làm giảm chất lượng của thức ăn. Việc cho ăn không đúng cách cũng làm tôm phân đàn, chậm lớn, không đồng đều, năng suất giảm.

3. Mật độ quá dày, sinh khối lớn

Khi nuôi tôm mật độ quá dày, nhưng không cung cấp đủ chất dinh dưỡng và khoáng chất cần thiết cho tôm phát triển làm tôm chậm lớn.

Khuyến cáo: nuôi tôm mật độ phù hợp với mô hình nuôi để đảm bảo tôm sinh trưởng và phát triển tốt. Định kỳ chài lưới kiểm tra đánh giá số lượng tôm có trong ao và thường xuyên kiểm tra nhá cho tôm ăn để canh lượng thức ăn cho phù hợp. Định kỳ bổ sung khoáng vào thức ăn tôm và khoáng tạt vào ao nuôi. Nếu đánh khoáng nên đánh vào buổi tối. 

4. Bệnh phân trắng mãn tính

Sau khi tôm bị mắc bệnh phân trắng nếu không kịp thời chữa trị tôm yếu dần khả năng hấp thu chất dinh dưỡng kém làm cho tôm bị chậm lớn.

Do đó, khi phát hiện tôm bị bệnh phân trắng cần có biện pháp điều trị kịp thời và trị dứt điểm. Sau đó bổ sung men đường ruột vào thức ăn cho tôm để cải thiện hệ vi sinh vật, giúp tôm hấp thụ chất dinh dưỡng.

5. Tôm mắc các bệnh gây chậm lớn

- Hội chứng chậm tăng trưởng (MSGS)

 nuôi tôm, bệnh trên tôm, nguyên nhân tôm chậm lớn, tôm chậm lớn, tôm bệnh

Tôm sú (Penaeus monodon) bị ảnh hưởng bởi hội chứng tăng trưởng chậm (MSGS).

Dấu hiệu bệnh lý: màu tối khác thường, đánh dấu màu vàng sáng bất thường, râu giòn, tương quan khác biệt về kích thước. Không có dấu hiệu bệnh lý vi mô rõ ràng.

Nguyên nhân không chắc chắn nhưng có sự hiện diện của virus Laem-Singh (LSNV).

- Bệnh còi ở tôm sú (Monodon Baculovirus – MBV)

Dấu hiệu bệnh lý tôm có màu tối hoặc xanh tái, xanh xẫm. Tôm kém ăn, hoạt động yếu và sinh trưởng chậm (chậm lớn). Các phần phụ và vỏ kitin có hiện tượng hoại tử, có nhiều sinh vật bám (ký sinh trùng đơn bào, tảo bám và vi khuẩn dạng sợi). Gan tuỵ teo lại có màu trắng hơi vàng, thối rất nhanh. Tỷ lệ chết tích lũy có thể cao tới 70%.

Nguyên nhân: virus MBV (Monodon baculovirus) và virus HPV (Hepatopancreatie parvovirus)

- Bệnh vi bào tử trùng 

Tôm chậm lớn do EHP ký sinh trong hệ thống ống gan tụy và làm cho tôm không hấp thụ được chất dinh dưỡng. Dấu hiệu bệnh ở ao nuôi: không có dấu hiệu đặc biệt của bệnh chỉ nghi ngờ với sự xuất hiện của sự tăng trưởng chậm bất thường trong ao;

• Nhiễm trùng phải được xác nhận bằng kính hiển vi hoặc phương pháp phân tử.

Nguyên nhân do: ký sinh trùng Enterocytozoon hepatopenaei ( EHP)

Biện pháp phòng:

+ Không dùng tôm giống có nhiễm mầm bệnh EHP, BMV, HPV... Xét nghiệm con giống, tuyệt đối không để cua còng vào ao, diệt giáp xác thật kỹ khi thả nuôi.

+ Tẩy dọn ao, bể nuôi như phương pháp phòng chung. Thường xuyên diệt khuẩn môi trường ao nuôi. Sử dụng vôi nóng (CaO) xử lý ao để có thể đạt độ pH đáy ao trong quá trình cải tạo cao hơn 11 - 12 để làm chết mầm bệnh EHP.

+ Nuôi tôm đúng mùa vụ, quản lý chăm sóc tốt, cung cấp đầy đủ thức ăn về chất và lượng. Không để tôm sock trong quá trình nuôi.

6. Lạm dụng kháng sinh để phòng bệnh cho tôm

Việc sử dụng kháng sinh để phòng bệnh cho tôm và dùng quá liều kháng sinh khi trị bệnh giảm khả năng chuyển hóa thức ăn của tôm làm tôm chậm lớn.

Lưu ý khi sử dụng kháng sinh trị bệnh cho tôm: dùng đúng liều đúng chu trình 5-7 ngày tránh lờn thuốc. Sau đó cần bổ sung sorbitol 2g/1kg thức ăn nhằm giúp tôm đào thải kháng sinh, sau khi dùng men vi sinh 3 ngày phải cho tôm ăn men đường ruột để khôi phục hệ vi khuẩn có lợi trong đường ruột tôm.

**không sử dụng kháng sinh phòng bệnh cho tôm giống và tôm nuôi, vì sẽ gây lờn thuốc và giảm khả năng chuyển hóa thức ăn của tôm.

 7. Căng thẳng do môi trường nuôi

 nuôi tôm, bệnh trên tôm, nguyên nhân tôm chậm lớn, tôm chậm lớn, tôm bệnh

Tôm biểu thị sự căng thẳng có sắc tố cao hơn và nguyên nhân gây ra bởi sự biến động của thông số môi trường trong ao nuôi tôm. Tôm trên bình thường, tôm dưới tôm bệnh. Ảnh: Naresh Kumar Dewangan và Ayyaru Gopalakrishnan 2016

Chất lượng nước là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong nuôi tôm. pH là một trong những thông số môi trường quan trọng quyết định quá trình sinh lý của tôm. Phạm vi từ 6,8 đến 8,7 cho tôm trong môi trường ao để tăng trưởng tối ưu. Theo nghiên cứu của Naresh Kumar Dewangan và Ayyaru Gopalakrishnan 2016 thấy rằng trong ao tôm phát triển bình thường độ pH tối đa chỉ xấp xỉ 7.7 trong khi đó ao tôm bệnh chậm lớn có độ pH tối đa lại ở mức 8.9. Sự xuất hiện của DO thấp trong môi trường ven biển đang gia tăng, và nó có tác động tiêu cực đến tăng trưởng và sinh sản thường xảy ra ở tôm ở nồng độ DO tức thời từ 3 - 5 mg/l. Đây có thể là một trong những nguyên nhân gây stress và làm tôm chậm trăng trưởng.

Với nuôi tôm trong nước có độ mặn thấp việc thiếu khoáng chất trong nước gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tôm làm tôm mềm vỏ khó lột xác, tăng trưởng chậm và thậm chí là tỉ lệ sống thấp. Thả nuôi tôm trong mùa nghịch khi nhiệt độ thấp sẽ làm tôm chậm tăng trưởng bởi khi nhiệt độ thấp trao đổi chất của tôm giảm theo làm tôm ăn yếu.

  • Bổ sung khoáng đầy đủ cho tôm nuôi ở độ mặn thấp.
  • Khi nhiệt độ giảm cần nâng mực nước trong ao giảm chênh lệch nhiệt độ, cho tôm ăn vào lúc trời ấm, lúc có nắng, tăng cường quạt nước, nâng mực nước của ao. Ương nuôi tôm trong ao lót bạt có che lưới từ 20 – 30 ngày trước khi san ra ngoài ao nuôi.
  • Đồng thời quản lý các yếu tố môi trường khác như để giảm stress cho tôm: độ kiềm, độ pH, khí độc ở ngưỡng phù hợp với sự tăng trưởng của tôm. 

Đăng ngày 24/06/2019
VĂN THÁI TH
Kỹ thuật

Kỹ thuật trồng cỏ năn tượng trong ao đầm nuôi tôm

Trong trồng cỏ năn tượng thì hấp thu những hợp chất hữu cơ trong ao đầm nuôi tôm làm hạn chế ô nhiễm môi trường, các loại thủy sản nuôi ghép hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình sinh trưởng và phát triển.

Cỏ năn tượng
• 09:52 29/02/2024

Khám phá mô hình nuôi tôm nhà kính công nghệ cao

So với những mô hình truyền thống trước đây, thì mô hình nuôi tôm trong nhà kính đang được nhiều nông dân lựa chọn. Bởi chúng hạn chế được rủi ro, mang lại năng suất cao và tiết kiệm tối đa chi phí. Mô hình này được xem là xu hướng thông minh, triển vọng lớn nên cần được nhân rộng ra trong thời gian tới tại các vùng nuôi tôm của nước ta.

Ao nuôi tôm nhà kính
• 09:40 29/02/2024

Đặc điểm và hướng xử lý bệnh xù vẩy ở cá Koi

Là một trong những giống cá cảnh được nuôi phổ biến nhất hiện nay. Vẻ đẹp uyển chuyển và lộng lẫy từ những chú cá Koi bơi lội trong hồ không chỉ tạo được cảnh quan bắt mắt mà còn có nhiều ý nghĩa về mặt phong thủy. Bởi thế, cá Koi không chỉ được lòng dân chơi cá cảnh mà còn thu hút rất nhiều người nuôi với mục đích trang trí nhà cửa, sân vườn và làm kinh doanh.

Cá Koi
• 11:33 26/02/2024

Nuôi ghép tôm thẻ với cá nâu theo công nghệ Biofloc

Nuôi tôm thẻ chân trắng kết hợp với cá nâu ở mật độ thích hợp trong hệ thống biofloc là một hướng đi mới giúp tăng tỉ lệ sống, khả năng tăng trưởng tốt và đảm bảo được các yếu tố môi trường nằm trong khoảng thích hợp cho sự phát triển của tôm thẻ chân trắng đặc biệt là TAN, nitrite và bioflocs.

Cá nâu
• 09:44 22/02/2024

Rau diếp biển làm thức ăn bổ sung cho tôm thẻ chân trắng

Enteromorpha prolifera là một loại tảo biển, có nhiều tên gọi khác nhau như rong ruột, tảo bẹ hay cái tên phổ biến nhất là rau diếp biển. Một ứng dụng thương mại quan trọng của E. prolifera là để sử dụng như nguyên liệu thức ăn chăn nuôi.

Rau diếp biển
• 23:29 29/02/2024

Bình Định thực hiện nhiều mô hình nuôi trồng thủy sản đạt hiệu quả

Trong năm 2023 Trung tâm Khuyến nông tập trung triển khai các mô hình nuôi trồng thủy sản theo hướng đa dạng hóa các đối tượng nuôi, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất để nâng cao giá trị sản phẩm, gắn với liên kết tiêu thụ theo chuỗi giá trị đã góp phần hạn chế rủi ro bệnh dịch, cải thiện môi trường sinh thái vùng nuôi, tạo ra các sản phẩm an toàn sinh học, nâng cao giá trị kinh tế, đem lại thu nhập ổn định và bền vững cho người nuôi.

Các mô hình nuôi trồng thủy sản
• 23:29 29/02/2024

Kỹ thuật trồng cỏ năn tượng trong ao đầm nuôi tôm

Trong trồng cỏ năn tượng thì hấp thu những hợp chất hữu cơ trong ao đầm nuôi tôm làm hạn chế ô nhiễm môi trường, các loại thủy sản nuôi ghép hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình sinh trưởng và phát triển.

Cỏ năn tượng
• 23:29 29/02/2024

Khám phá mô hình nuôi tôm nhà kính công nghệ cao

So với những mô hình truyền thống trước đây, thì mô hình nuôi tôm trong nhà kính đang được nhiều nông dân lựa chọn. Bởi chúng hạn chế được rủi ro, mang lại năng suất cao và tiết kiệm tối đa chi phí. Mô hình này được xem là xu hướng thông minh, triển vọng lớn nên cần được nhân rộng ra trong thời gian tới tại các vùng nuôi tôm của nước ta.

Ao nuôi tôm nhà kính
• 23:29 29/02/2024

Cá chình điện có thật sự nguy hiểm?

Cá chình điện là loài cá nước ngọt độc đáo, có nguồn gốc từ Nam Mỹ và sở hữu khả năng phát điện mạnh mẽ. Những đặc điểm nhận diện nổi bật của cá chình điện bao gồm thân hình dài thuôn, da trơn, vây nhỏ, màu sắc sẫm và đặc biệt là cơ quan tạo điện. Vậy cá chình điện có ăn được không, cùng Tép Bạc tìm hiểu qua nội dung trong bài viết này nhé!.

Cá chình điện
• 23:29 29/02/2024