Mô hình bè nuôi lồng cải tiến được triển khai trên vùng biển Quảng Ninh.
Quảng Ninh: Nuôi ngao hai cùi theo chuỗi liên kết, 1 vốn thu gần 2 lời
Nhờ áp dụng quy trình nuôi lồng cải tiến và chủ động xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ bền vững, mô hình nuôi ngao hai cùi (ngao giá) thương phẩm tại Quảng Ninh đang mang lại lợi nhuận đạt từ 50% đến 80% so với số vốn bỏ ra, mở ra hướng sinh kế xanh thích ứng với biến đổi khí hậu cho người dân vùng biển.
Từ phương thức truyền thống đến quy trình kỹ thuật tiên tiến nuôi ngao hai cùi
Ngao hai cùi (tên khoa học là Tapes Conspersus) là loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ có giá trị dinh dưỡng cao, thịt thơm ngon và rất được thị trường ưa chuộng. Tại Việt Nam, loài này phân bố tự nhiên nhiều tại các vùng biển Quảng Ninh, Hải Phòng, Khánh Hòa, Bình Thuận. Tuy nhiên, phần lớn người dân trước đây vẫn áp dụng phương pháp nuôi truyền thống, chưa chú trọng quản lý dịch bệnh khiến năng suất chưa tương xứng với tiềm năng.
Để khắc phục hạn chế này, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã phối hợp với Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Ninh và Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật và Thủy sản triển khai dự án trọng điểm: "Xây dựng mô hình nuôi thương phẩm Ngao hai cùi gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm". Dự án đã mang đến một quy trình nuôi tiên tiến, chuẩn hóa từ khâu chọn bãi, chuẩn bị lồng nuôi đến chăm sóc.
Ngao hai cùi là loài nhuyễn thể được thị trường ưa chuộng.
Khâu chọn bãi và kiểm soát môi trường khắt khe
Theo hướng dẫn kỹ thuật của dự án, bãi nuôi ngao phải nằm trong vùng quy hoạch, diện tích tối thiểu 5.000 m² với chất đáy là cát bùn hoặc bùn cát (tỉ lệ 60% cát - 40% bùn). Vị trí nuôi cần đảm bảo độ sâu mực nước tối thiểu 2 m khi thủy triều thấp nhất, tốc độ dòng chảy lưu thông từ 0,1 – 0,3 m/s và không bị ảnh hưởng bởi nguồn nước ngọt trực tiếp hay chất thải công nghiệp.
Các chỉ tiêu môi trường lý tưởng bao gồm: pH từ 7,5 – 8,5; độ mặn ổn định từ 20 – 31‰; oxy hòa tan trên 4 mg/l và mật độ tảo đạt từ 200 – 400 tế bào/ml.
Cải tiến lồng nuôi và quản lý con giống
Điểm cốt lõi của mô hình là sử dụng lồng nuôi hình bầu dục hoặc hình tròn được lót lớp lưới chuyên dụng phía trong để bảo vệ ngao khỏi thiên địch. Giá thể bên trong lồng là cát vàng pha với vỏ nhuyễn thể (tỉ lệ vỏ trên 10%), đổ cao tầm 70% thể tích lồng.
Nguồn con giống được khuyến cáo sử dụng là giống cấp 2 (kích cỡ 12 – 22 mm), vỏ tươi sáng, vân rõ ràng và được mua tại các cơ sở đủ điều kiện chứng nhận. Mật độ thả nuôi đảm bảo không quá 300 con/m². Khi thả giống, các lồng được xếp sát nhau thành từng luống dọc theo hướng thủy triều để nước lưu thông tốt, cung cấp đủ thức ăn tự nhiên và tránh bị sóng đánh xô đổ.
Người nuôi chuẩn bị lưới lót và cố định nắp lồng nuôi theo đúng quy trình kỹ thuật.
Quản lý nghiêm ngặt, chủ động ứng phó thiên tai
Trong suốt chu kỳ nuôi 12 tháng, người nuôi được hướng dẫn kiểm tra định kỳ mỗi tháng một lần vào lúc triều cạn để vệ sinh lồng lưới và theo dõi sức khỏe của ngao.
Đặc biệt, mô hình nhấn mạnh việc kiểm tra đột xuất sau mưa bão. Nếu lớp bùn bồi lắng trên lồng dày quá 2 cm, bà con cần loại bỏ ngay lập tức. Trường hợp độ mặn giảm xuống dưới 20‰ kéo dài từ 2 – 3 tuần do ảnh hưởng của nước ngọt mùa mưa, người nuôi phải chủ động di dời lồng nuôi sang khu vực khác để bảo vệ tỉ lệ sống của ngao (mục tiêu đạt trên 75%).
Hiệu quả kinh tế cao và lời giải cho bài toán đầu ra
Hiện nay, sản lượng nuôi ngao hai cùi tại Quảng Ninh đã vượt mốc 4.000 tấn mỗi năm. Với giá bán ổn định dao động từ 60.000 – 70.000 đồng/kg (loại kích cỡ thương phẩm từ 28 – 35 con/kg), mô hình nuôi ngao hai cùi thường xuyên mang lại mức lợi nhuận hấp dẫn từ 50% đến 80% cho người dân.
Kiểm tra kích cỡ ngao hai cùi định kỳ nhằm theo dõi sát sao tốc độ sinh trưởng.
Để giải quyết "bài toán khó" kinh niên về đầu ra, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã chủ động tổ chức ký kết biên bản thỏa thuận, xây dựng chuỗi liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân. Doanh nghiệp sẽ đồng hành cùng bà con từ khâu cung ứng con giống chất lượng đầu vào cho đến bao tiêu toàn bộ sản phẩm đầu ra.
Dự án không chỉ đặt mục tiêu đạt tối thiểu 153 tấn ngao hai cùi chất lượng cao, tăng hiệu quả kinh tế ít nhất 15% so với ngoài mô hình, mà còn góp phần hiện thực hóa đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển của Chính phủ. Đây được xem là giải pháp sinh kế xanh bền vững giúp người dân các xã đảo ổn định kinh tế trước áp lực của thiên tai và biến đổi khí hậu, đưa sản phẩm ngao hai cùi Việt Nam tự tin vươn ra thị trường quốc tế.
Bài viết và hình ảnh được tổng hợp từ Thư viện đĩa hình Khuyến Nông của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia.
Nguồn: Trung tâm Khuyến nông Quốc gia