Một trong những khu vực được kỳ vọng lớn là vùng biển Hòn Mê, phường Hải Bình. Đây không chỉ là “ngân hàng” sinh thái với hàng trăm loài cá, tôm, mực, trai ngọc, mà còn là ngư trường có trữ lượng 15-20 nghìn tấn cá, khả năng khai thác hằng năm 7-10 nghìn tấn. Hòn Mê đồng thời sở hữu tiềm năng lớn cho nuôi cá song, cá mú, cá bớp, tôm hùm…
Người tiên phong với lồng nuôi hiện đại
Anh Lê Đình Dũng, ngư dân phường Hải Bình, là một trong những người mạnh dạn đầu tư. Năm 2023, anh bỏ gần 10 tỷ đồng dựng hệ thống lồng nhựa HDPE trên biển, thả 12 vạn cá chim, 3 vạn cá mú và 5 vạn cá bớp. Nhờ sử dụng giống chuẩn, kiểm soát thức ăn, hạn chế kháng sinh, sản lượng của anh đạt 80-100 tấn mỗi năm, lãi ròng khoảng 700 triệu đồng.
Không xa đó, Hợp tác xã Nuôi trồng Biển Đông - Đảo Mê do ông Phạm Văn Vinh điều hành đã triển khai hơn 170 lồng nuôi. Ông Vinh cho rằng chi phí đầu tư ban đầu lớn nhưng bù lại, bà con có thu nhập ổn định hơn nhiều so với nghề đi khơi xa đầy rủi ro. Mỗi năm, hợp tác xã cung ứng hàng trăm tấn thủy sản, doanh thu đạt hàng chục tỷ đồng, tạo việc làm cho nhiều lao động trong vùng.
Ngư dân có thể thu tiền tỷ mỗi năm nhờ nuôi biển. Ảnh: Quốc Toản
Thách thức trên con đường nuôi biển
Dù triển vọng rõ rệt, nuôi biển ở Thanh Hóa vẫn đối mặt không ít khó khăn. Người nuôi cần vốn lớn, công nghệ hiện đại, trong khi rủi ro từ bão gió, dịch bệnh, biến đổi khí hậu luôn thường trực. Nguồn thức ăn cho cá ngày càng đắt đỏ, chất lượng con giống chưa đồng đều. Bên cạnh đó, bà con còn chờ đợi khung pháp lý minh bạch về quyền sử dụng mặt nước biển để yên tâm đầu tư lâu dài.
Ông Vinh bày tỏ: “Đầu tư nuôi biển tốn kém, rủi ro cao. Chúng tôi mong Nhà nước có chính sách tín dụng ưu đãi và cơ chế rõ ràng để bà con mạnh dạn mở rộng quy mô.”
Hướng tới phát triển bền vững
Thanh Hóa hiện có hơn 19 nghìn ha nuôi trồng thủy sản, trong đó nuôi biển chiếm tỷ lệ lớn với hơn 3.600 lồng. Tỉnh đã ban hành nhiều chính sách phát triển nuôi biển theo hướng công nghiệp, trong đó ưu tiên khu vực Hòn Mê với 88 ha dành cho nuôi cá biển và tôm hùm.
Ông Nguyễn Xuân Hưng, Trưởng phòng Nuôi trồng thủy sản (Chi cục Biển đảo và Thủy sản Thanh Hóa), khẳng định: “Nuôi biển chính là giải pháp để giảm áp lực khai thác, chấm dứt tình trạng tận diệt bằng giã cào hay xung điện. Các mô hình nuôi xa bờ bằng lồng HDPE, nuôi ghép nhiều loài sẽ vừa cung cấp sản phẩm đa dạng, vừa bảo vệ hệ sinh thái.”
Thanh Hóa cũng đã xác định hành lang bảo vệ bờ biển, tạo cơ sở pháp lý giao mặt nước cho doanh nghiệp, đồng thời khuyến khích mô hình nuôi tôm, cua, cá, ngao ven biển và cá lồng trên hồ chứa. Mục tiêu là đến năm 2045, tỉnh phát triển hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, gắn nuôi biển với bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Cá được nuôi trong lồng bè tại vùng biển Hòn Mê. Ảnh: Quốc Toản
Trong 8 tháng đầu năm 2025, sản lượng thủy sản của Thanh Hóa đạt hơn 148 nghìn tấn, trong đó nuôi trồng chiếm hơn 40% và tăng 2,7% so với cùng kỳ. Con số này cho thấy xu thế chuyển từ khai thác sang nuôi trồng đang ngày càng rõ rệt.
Nuôi biển không chỉ mở lối thoát cho ngư dân giữa lúc nguồn lợi cạn kiệt, mà còn là giải pháp phát triển bền vững của ngành thủy sản Thanh Hóa. Giữ biển bằng cách nuôi biển – đó là con đường để vừa ổn định sinh kế, vừa bảo vệ hệ sinh thái cho thế hệ mai sau.
Theo Quốc Toản & Tâm Phùng, Báo Nông nghiệp và Môi trường