Quy trình cải tạo ao đang sử dụng tạo cơ hội cho EMS phát triển?

Phương thức quản lý vi sinh vật thích hợp sau khi khử trùng ao nuôi của Dr. Peter De Schryver và ctv trên tạp chí  PLOS.

diệt khuẩn ao nuôi
Diệt khuẩn ao nuôi được xem là cơ hội cho EMS bùng phát

Sự khử trùng ao nuôi loại bỏ hầu như, nhưng không phải tất cả các vi sinh vật. Sau khi cấp nước cho ao nuôi, các vi sinh vật sống sót – gồm các vi sinh vật phát triển nhanh như Vibrio parahaemolyticus, nguyên nhân gây hội chứng chết sớm trên tôm, có thể hưởng lợi từ nguồn dinh dưỡng có sẵn trong nền đáy và nước và không bị cạnh tranh bởi các vi sinh vật khác.

Sự tồn tại trong môi trường nước của một hệ vi sinh vật hoàn chỉnh và đa dạng trước khi thả nuôi có thể giúp tránh hình thành một số lượng lớn các vi khuẩn Vibrio và nhờ đó giúp hạn chế được tác động của các mầm bệnh tìm ẩn.

Hội chứng chết sớm  (EMS), cũng được biết như là hộ chứng  hoại  tử gan tụy cấp tính, thường ảnh hưởng đến tôm giai đoạn hậu ấu trùng với giai đoạn 20 đến 30 ngày nuôi và có thể gây tỉ lệ chết lên đến 100%.

Tổ chức Liên Minh Tôm Toàn Cầu ước tính hàng năm nó gây thiệt hại đến hơn 1 tỉ USD đối với ngành nuôi tôm ở châu Á. Tác nhân chính của EMS được báo cáo là do vi khuẩn, cụ thể hơn đó là dòng Vibrio parahaemolyticus. Vi khuẩn này là một thành phần thông thường của thế giới vi sinh vật tự nhiên trong nước biển.

Hiện tại, nghiên cứu được tập trung vào nghiên cứu bệnh học và nguyên nhân của EMS, mặc dù các nổ lực để phát triển các phương thức ngăn chặn hay chữa trị bệnh cũng không kém phần, hay có thể nói là cần thiết hơn. Dựa trên đặc điểm sinh thái của tác nhân gây bệnh, dường như sự tiếp cận nhằm vào việc kiểm soát sự hiện diện hay hoạt động của Vibrio nói chung có cơ hội cao hơn để giảm các nguy cơ bùng phát của dịch bệnh EMS.

Khử trùng ao nuôi

Khử trùng ao nuôi – gồm hay không gồm việc phơi đáy – để loại bỏ hầu hết các vi khuẩn và các sinh vật khác, nhưng nó không hiệu quả trong việc loại bỏ tận gốc toàn bộ các vi sinh vật, đặc biệt là trong các màn sinh học và nền đáy. Sau khi ao được cấp nước, các vi sinh vật sống sót có thể hưởng lợi từ nguồn dinh dưỡng dồi dào và không có sự cạnh tranh dinh dưỡng từ các vi sinh vật khác. Các điều kiện này tạo cơ hội cho  sự phát triển của các vi khuẩn sinh trưởng nhanh.

Xét đến sự thật rằng nhiều vi khuẩn gây bệnh Virio, bao gồm vi khuẩn gây bệnh EMS, là các vi khuẩn cơ hội phát triển nhanh có thể tăng sinh bên ngoài vật chủ, việc khử trùng ao nuôi có vẻ như sẽ giúp chúng phát triển mạnh hơn và chiếm ưu thế trong ao nuôi. Việc thả tôm hậu ấu trùng và cho ăn trong các ao được khử trùng tạo thêm cơ hội cho điều này thông qua việc cung cấp thêm nguồn thức ăn  thúc đẩy các vi sinh vật này phát triển mạnh.

vi sinh trong ao nuoi tom
Ảnh hưởng của việc khử trùng ao nuôi  góp phần tạo nên các nguồn mầm bệnh Vibrio trong ao nuôi

Nguy cơ dịch bệnh bùng phát có vẻ tăng lên với sự gia tăng số lượng của các tác nhân gây bệnh trong nước nuôi. Do đó, nếu không có sự quản lý tốt sau xử lý,  việc khử trùng ao, xét về lâu dài, có thể làm tăng hơn là giảm nguy cơ dịch bệnh EMS.

Thực tế, bệnh EMS bùng phát tương tự như bênh phát sáng trong những năm 90. Bệnh này do vi khuẩn Vibrio harveyi, một nhánh của nhóm các vi khuẩn Vibrio gây bệnh mà V. parahaemolyticus cũng là một thành viên trong đó. Giống với EMS, bệnh do vi khuẩn phát sáng Vibrio xảy ra ở giai đoạn 10 đến 45 ngày sau khi thả tôm vào ao nuôi. Sự bùng phát dịch bệnh được báo trước bởi sự tăng đáng kể số lượng các vi khuẩn Vibrio trong ao nuôi sau khi diệt khuẩn ao.

Hệ vi sinh vật hoàn chỉnh

Có thể tránh được số lượng lớn V. parahaemolyticus xuất hiện trong ao  nuôi bằng cách tạo hệ vi sinh vật trong môi trường nuôi với một hệ vi sinh vật trưởng thành và đa dạng trước khi thả nuôi.

Điều này tạo nên một sự cân bằng giữa mật độ các vi sinh vật và mức độ dinh dưỡng trong nước nuôi. Đây có thể là một cơ chế tốt để ngăn chặn các vi khuẩn gây bệnh EMS tăng số lượng và làm bùng phát dịch bệnh.

Chìa khóa để tạo một hệ vi sinh vật hợp lý và đa dạng trong ao nuôi là tạo ra một khoảng thời gian ổn định sau khi diệt khuẩn và trước khi thả giống, trải qua thời kỳ này, các chất dinh dưỡng được bổ sung để thúc đẩy vi sinh vật phát triển.

Điều này trước tiên sẽ cho kết quả là vi khuẩn phát triển nhanh có số lượng lớn dần bị thay thể bởi một hệ vi sinh vật hoàn chỉnh phát triển chậm có tính đa dạng cao. Dinh dưỡng có thể được bổ sung, ví dụ, bằng cách nuôi cá rô phi trong ao trong thời kỳ ổn định môi trường nuôi.

Cách tiếp cận bằng nguồn nước hoàn chỉnh

Tiềm năng của nguyên tắc nước hoàn chỉnh gần đây đã được chứng minh trong nuôi ấu trùng cá tuyết Đại Tây Dương bởi Dr. Kari Attramadal và Prof. Olav Vadstein ở Đại Học Khoa Học Và Công Nghệ Na Uy ở Trondheim, Na Uy.

Họ đã so sánh ứng dụng một hệ thống nước chảy tràn – mà nó sẽ lựa chọn các vi sinh vật phát triển nhanh trong môi trường nước- với hai hệ thống nước hoàn chỉnh, một hệ thống theo phương thức nước chảy tràn và một hệ thống nước chảy tuần hoàn.

Người ta thấy rằng quần thể vi sinh vật trong nước hoàn chỉnh phong phú và ổn định hơn, và tỉ lệ sống của ấu trùng nuôi trông nước hoàn chỉnh cao hơn 72% so với hệ thống nước không hoàn chỉnh. Có nhiều chỉ số trong thực tế chỉ ra rằng cách tiếp cận nước hoàn chỉnh có thể cũng hiệu quả đối với nuôi tôm. Ví dụ, người ta thấy rằng EMS ít thấy ở các ao  nuôi có sự định cư của giáp xác chân chèo copepod.  Điều này chỉ ra rằng hệ sinh thái hoàn chỉnh một cách tự nhiên, như giáp xác chân chèo đòi hỏi một lượng phiêu sinh thực vật và vi khuẩn ổn đinh như một nguồn thức ăn.

Giáp xác chân chèo trong ao nuôi

Hệ thống nuôi nước xanh - thường được tạo ra bằng việc nuôi kết hợp với cá rô phi – và hệ thống công nghệ biofloc cũng cho thấy giúp giảm khả năng nhiễn EMS trong thực tiễn. Các hệ thống như vậy được đặc trưng bởi một quần thể nhiều vi tảo và vi khuẩn, và được thể hiện trong việc làm giảm mức độ Vibrio và giảm tỉ lệ chết của vật nuôi.

Các vi khuẩn hiện diện trong các hệ thống này có thể cạnh tranh hiệu quả với các mầm bệnh gây bệnh EMS về nguồn dinh dưỡng và kể cả kiểm soát sự hiện diện của chúng.

Cần nhấn mạnh rằng phương pháp tiếp cận hệ thống hoàn thiện nhằm mục đích ngăn chặn và không thể chữa được cho tôm bị nhiễm EMS. Do đó, các trang trại nên chắc chắn rằng các ấu trùng tôm thả nuôi phải không bị nhiễm EMS.

Các quan điểm

Sự bùng phát gần đây của dịch bệnh EMS đề nghị rằng các ứng dụng nuôi tôm công nghiệp hiện đại cần được đánh giá lại. các tác giả tranh luận rằng việc sử dụng chỉ các chất khử trùng và kháng sinh sẽ không giải quyết được các vấn đề.

Tốt hơn là cần phải lợi dụng sự cạnh tranh tự nhiên giữa các vi sinh vật để giữ cho các vi khuẩn gây bệnh EMS không thể phát triển đến mật độ cao và bùng phát dịch bệnh trong hệ thống nuôi.

(Bài báo này được tóm tắt từ “Early Mortality Syndrome Outbreaks:A Microbial Management Issue in Shrimp
Farming,
” xuất bản ngày 24/4/2014 bởi  Dr. PeterDe Schryver và ctv trên tạp chí  PLOS, một tạp chí thuộc  Public Library of Science)

Đăng ngày 24/11/2016
Quốc Việt
Kỹ thuật

Tổng quan về công nghệ MBBR trong nuôi trồng thủy sản

MBBR là Moving Bed Biofilm Reactor, hứa hẹn là công nghệ xử lý nước thải ưu việt trong nuôi trồng thủy sản.

công nghệ MBBR
• 18:17 25/09/2021

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP không chỉ loại bỏ hiệu quả nồng độ Ammonium mà còn xử lý đến 90% chất hữu cơ.

Chế biến cá tra
• 07:00 22/04/2020

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản bằng cảm biến nano

Sử dụng được cả trên bờ, dưới nước để quan trắc chất lượng nước, hệ thống cảm biến nano do Viện Công nghệ nano (INT) thuộc Đại học Quốc gia TPHCM nghiên cứu giúp người nuôi trồng thủy sản yên tâm khi chất lượng nước nuôi được cảnh báo tự động kịp thời khi có sự cố.

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản
• 14:35 05/02/2020

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng.Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ
• 08:46 30/10/2019

Hiệu quả nuôi cá mú trân châu thương phẩm: Từ giống đến thu hoạch

Cá mú trân châu (cá mú lai) đang trở thành đối tượng nuôi biển có giá trị kinh tế cao tại nhiều địa phương ven biển Việt Nam. Nhờ tốc độ sinh trưởng nhanh, tỷ lệ sống cao và chất lượng thịt ngon, loài cá này được nhiều hộ nuôi lựa chọn phát triển trong các hệ thống nuôi lồng bè trên biển và ao đất ven bờ.

cá mú trân châu
• 19:15 11/03/2026

Giảm phụ thuộc Artemia trong sản xuất tôm giống: Xu hướng mới của các trại giống

Artemia từ lâu được xem là nguồn thức ăn sống quan trọng trong sản xuất giống tôm và cá biển. Tuy nhiên, chi phí cao, biến động chất lượng và rủi ro an toàn sinh học đang khiến nhiều trại giống tìm kiếm các giải pháp thay thế hoặc giảm phụ thuộc vào nguồn thức ăn này.

tôm
• 12:00 11/03/2026

Ao nổi lót bạt HDPE cùng rốn xả xi-phông giải pháp chủ động phòng ngừa dịch bệnh

Sự chuyển dịch từ ao đất truyền thống sang mô hình ao nổi lót bạt kết hợp rốn xả xi-phông đang trở thành cuộc cách mạng công nghệ trong ngành chăn nuôi thủy sản. Hệ thống thiết kế khép kín này không chỉ giải quyết triệt để bài toán ô nhiễm môi trường nước mà còn là chìa khóa vàng giúp người nông dân kiểm soát hoàn toàn rủi ro dịch bệnh.

ao bạc
• 19:00 10/03/2026

Nắng nóng mùa hè: Cảnh giác bệnh vểnh mang ở tôm nuôi

Bước vào mùa hè, nhiều vùng nuôi tôm ở Việt Nam bắt đầu đối mặt với những đợt nắng nóng kéo dài. Nhiệt độ nước ao có thể tăng lên trên 32–34°C vào buổi trưa, trong khi hàm lượng oxy hòa tan giảm mạnh.

tôm bị vểnh mang
• 15:00 07/03/2026

Phụ thu 10% và những điều chỉnh tức thời của thị trường nhập khẩu thủy sản tại Hoa Kỳ

Chính sách phụ thu nhập khẩu 10% của Hoa Kỳ đang tạo ra nhiều biến động đối với thị trường thủy sản toàn cầu, buộc các nhà nhập khẩu phải nhanh chóng điều chỉnh chiến lược kinh doanh, chuỗi cung ứng và cấu trúc chi phí. Diễn biến này được dự báo sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong năm 2026.

chế biến thủy sản
• 15:44 14/03/2026

Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời cử tri TP.HCM về giải pháp ngăn thực phẩm bẩn

Trước lo ngại về tình trạng sử dụng chất cấm trong chăn nuôi, thủy sản và thực phẩm không rõ nguồn gốc, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết sẽ tiếp tục hoàn thiện chính sách, tăng cường hậu kiểm và xử lý nghiêm vi phạm để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.

cá
• 15:44 14/03/2026

Làm Thế Nào Để Một Trang Trại Cá Có Thể Kiếm Được Lợi Nhuận?

Lợi nhuận trong nuôi cá không đến từ việc cắt giảm chi phí bằng mọi giá, mà đến từ khả năng tối ưu biên lợi nhuận trên mỗi kilogram cá bán ra. Điều này phụ thuộc vào ba yếu tố cốt lõi: lựa chọn loài nuôi, phương thức nuôi và chiến lược thức ăn.

• 15:44 14/03/2026

Xung Đột Trung Đông Leo Thang: Chuỗi Cung Ứng Thủy Sản Việt Nam Đối Mặt Rủi Ro Lớn

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (VASEP), Trung Đông đang nổi lên là một trong những thị trường tăng trưởng đáng chú ý của thủy sản Việt Nam.

cảng
• 15:44 14/03/2026

Chuyển giao công nghệ tạo giống tôm kháng bệnh (SPR)

Việc chuyển giao thành công kỹ thuật chọn giống kháng bệnh chính là chìa khóa giải quyết triệt để rủi ro từ gốc rễ, thay vì thụ động chạy chữa bằng hóa chất như trước đây.

tôm
• 15:44 14/03/2026
Some text some message..