Danh mục

Tin tức

Giá cả

eShop

Việc làm

Học tập

Kết nối

Farmext

sản xuất thủy sản

Sản xuất thủy sản không đáp ứng kịp năng lực chế biến

04:00 26/02/2014 Thái Phương 1,094 lượt xem

Ngành thủy sản khá thành công trong năm 2013 với tổng sản lượng đạt trên 6 triệu tấn, tăng 2,1% so với năm 2012 và giá trị sản xuất toàn ngành trên 176.500 tỷ đồng, tăng 4,2%. Ghi đậm nhất là dấu ấn thắng lợi về sản lượng tôm chân trắng nuôi nhờ khắc phục một phần dịch bệnh tôm.

Hội nghị tổng kết của Tổng cục Thủy sản (TCTS) tổ chức vào cuối tháng 12/2013 đã đánh giá cao những thành tựu mà ngành đạt được trong năm.

Trong khai thác thủy sản đã đẩy mạnh việc tổ chức lại hoạt động trên biển, khuyến khích khai thác xa bờ theo tổ đội sản xuất, tập trung đánh bắt các đối tượng có giá trị kinh tế cao và có thị trường tiêu thụ tốt; nghiên cứu đầu tư và ứng dụng công nghệ, thiết bị bảo quản hiện đại để  nâng cao giá trị sản phẩm và giảm thất thoát sau thu hoạch, v.v…

Nuôi trồng thủy sản (NTTS) ghi dấu ấn hiệu quả trong khắc phục dịch bệnh và sự nhảy vọt  sản lượng tôm chân trắng. Hai đối tượng nuôi chính là tôm và cá tra tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong tổng giá trị XK thủy sản của cả nước. Ngành NTTS đã xây dựng dự án “Phát triển tôm chân trắng bố mẹ” và chuyển giao 110.000 con cá tra hậu bị về các cơ sở sản xuất giống nhằm mục tiêu đảm bảo chất lượng con giống cho người nuôi; tăng cường kiểm soát vật tư đầu vào. Đặc biệt là việc tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, dịch vụ cho ngành, trong đó ưu tiên đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng vùng nuôi tập trung thâm canh, v.v…

Tuy nhiên, so với nhu cầu nguyên liệu để sản xuất phục vụ thị trường trong và ngoài nước, nhất là cho các nhà máy chế biến XK thì khả năng đáp ứng vẫn còn một khoảng cách khá xa. Tình trạng thiếu nguyên liệu đủ tiêu chuẩn chất lượng vẫn rất phổ biến. Đây là vấn đề cần sự quan tâm lớn của cả ngành khai thác và NTTS trong thời gian tới.

Nhận diện tồn tại và hạn chế

Đối với khai thác thủy sản

Cơ cấu tàu thuyền đã có nhiều tiến bộ, hỗ trợ tích cực cho khai thác xa bờ, nhưng tỷ trọng sản lượng các đối tượng có giá trị cao, nhiều cơ hội thị trường và mang lại lợi nhuận cao cho ngư dân lại ngày càng giảm sút. Điều này thể hiện rõ nhất ở hai đối tượng chủ lực là cá ngừ và mực, bạch tuộc. Thiếu nguyên liệu là một trong những nguyên nhân chính khiến XK mực, bạch tuộc, cá ngừ  và các loài cá biển khác đều thấp hơn đáng kể so với năm 2012.

Năm 2013, sản lượng khai thác cá ngừ đại dương của cả nước sụt giảm. Không những thế, việc xử lý, bảo quản chưa đúng kỹ thuật đã làm giảm phẩm cấp và chất lượng, không đáp ưng yêu cầu XK đã ảnh hưởng lớn đến giá trị cuối cùng của sản phẩm.

Đề cập vai trò của Quyết định 68/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 về chính sách hỗ trợ giảm tổn thất sau thu hoạch trong nông nghiệp đối với những tồn tại trong bảo quản chất lượng sản phẩm thủy sản sau khai thác, ông Đào Hồng Đức, Cục trưởng Cục Khai thác và Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản cho rằng: “Đối với ngành khai thác thủy sản, chính sách hỗ trợ chủ yếu là lắp đặt hệ thống thiết bị bảo quản sản phẩm sau đánh bắt trên tàu. Đến nay, nhiều tàu khai thác, tàu thu mua và vận chuyển hải sản đã lắp đặt được các thiết bị bảo quản lạnh, nhưng do thực tế tàu thuyền của ngư dân còn rất thô sơ, chưa có thiết kế thích hợp nên việc hiện đại hóa và nâng cấp để lắp đặt đồng bộ các thiết bị vẫn còn nhiều khó khăn đòi hỏi phải có khoảng thời gian nhất định.”

Theo thống kê, sản lượng khai thác mỗi năm của nước ta đạt 2,2 triệu tấn, nhưng tỷ lệ thất thoát khá lớn, khoảng 20 - 25% tổng sản lượng, tương đương với giá trị hàng nghìn tỷ đồng.

Bên cạnh đó, các cảng cá và khu neo đậu trú ẩn vẫn còn có những nơi chưa đạt được yêu cầu về luồng lạch và không đủ cơ sở hậu cần cung cấp dịch vụ. Những tồn tại này chủ yếu là do việc xây dựng quy hoạch trước đây đã lỗi thời do số tàu thuyền tăng lên và công suất của mỗi tàu cũng lớn hơn rất nhiều. 

Việc cung cấp vốn, tín dụng và bảo hiểm cho ngư dân cũng như đầu tư cho khai thác thủy sản là những vấn đề được đại diện của các địa phương hết sức quan tâm, đòi hỏi Tổng cục Thủy sản phải chú trọng trong năm 2014. Tuy nhiên TCTS và các đơn vị chức năng cần xây dựng các giải pháp kêu gọi vốn đầu tư, kể cả nguồn vốn ngoại, nhằm tăng cường nguồn lực phát triển ngành

Về cơ chế cho vay đối với ngư dân, theo Tổng Cục trưởng Vũ Văn Tám: “Nhà nước vẫn có chính sách rất ưu đãi cho ngư dân vay vốn, nhưng cho vay phải theo cơ chế thương mại thông thường, việc xử lý rủi ro cũng theo cơ chế này, nghĩa là vẫn phải có thế chấp và đảm bảo thì ngân hàng mới cho vay. Ví dụ, giá trị một con tàu khoảng 10 tỷ đồng, ngân hàng có thể cho vay 8 tỷ với lãi suất 2,3%/năm, còn ngư dân phải bỏ ra 2 tỷ đồng. Số tiền của ngư dân phải có trước để chứng minh năng lực, khi đó ngân hàng mới có cơ sở để cho vay phần tiếp theo 80%. Tuy nhiên, đối với ngư dân số tiền nêu trên là rất lớn đối với họ, vì vậy việc triển khai cho vay theo hướng này còn rất khó tiến triển”.

Về nuôi trồng thủy sản

Rõ ràng là hoạt động sản xuất chế biến XK tôm và cá tra đều phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên liệu nuôi, nhưng nguồn cung cấp này luôn trong tình trạng bất ổn. Năm 2013, sản lượng tôm chân trắng đã giúp giải quyết nhiều nguyên liệu cho chế biến XK, nhờ vậy ngành tôm đã tận dụng được cơ hội thị trường để gia tăng đáng kể giá trị XK.

Nuôi cá tra theo tiêu chuẩn GlobalGAP
Nuôi cá tra theo tiêu chuẩn GlobalGAP

Tuy nhiên, nhiều năm qua, hầu như các nhà máy chế biến tôm chỉ hoạt động được khoảng 40-50% công suất thiết kế do thiếu nguyên liệu. Ngành cá tra lại luôn chao đảo giữa thừa và thiếu nguyên liệu, hiệu quả đầu tư nuôi thiếu bền vững vì vậy giá trị cuối cùng mang lại cho cả người nuôi và nhà chế biến XK rất thấp. 

Nhiều yếu tố đầu vào ảnh hưởng tới NTTS, nhưng vấn đề chất lượng con giống luôn là mối lo ngại đầu tiên của người nuôi. Sự hạn chế trong quản lý và kiểm dịch con giống NK đã gây ra không ít tổn thất.

Ông Bùi Đức Quý, Vụ trưởng NTTS thuộc TCTS, cho biết: “Qua việc rà soát và đi kiểm tra thực tế tới các đầu mối nước ngoài cung cấp tôm bố mẹ tôm chân trắng đã phát hiện 3 cơ sở đã lấy tôm nuôi từ đầm xuất bán cho Việt Nam làm tôm bố mẹ để sản xuất giống. Ba cơ sở trên đã bị cảnh báo và cấm XK vào Việt Nam.”

Mới đây, một thông tư về quản lý chất lượng con giống thủy sản đã được ban hành làm công cụ pháp lý hỗ trợ việc quản lý chất lượng và tạo ra cơ chế để kiểm soát và truy xuất nguồn gốc đến các nước có tôm bố mẹ XK sang Việt Nam.

Cũng trong năm 2013, đã có thêm 2 văn bản quan trọng khác quản lý về thức ăn và các sản phẩm xử lý và cải tạo môi trường trong NTTS. Những văn bản này thể hiện tiếp cận quản lý chất lượng từ gốc của cả chuỗi sản xuất thủy sản. Tuy nhiên, việc triển khai và giám sát thực hiện các văn bản ấy mới thực sự quan trọng và có hiệu quả.

Ông Quý cũng cho biết, năm 2014 Cục sẽ tiếp tục xây dựng thông tư đánh giá rủi ro đối với thủy sản sống NK vào Việt Nam và văn bản quản lý vùng nuôi tôm, đặc biệt là nuôi tôm nước lợ. Như vậy, cùng với việc ban hành Nghị định về Cá tra, ngành NTTS về cơ bản đã có đủ công cụ pháp lý chính để quản lý hoạt động này ở các địa phương. 

Ông Quý thông báo, năm 2014 ngành sẽ dành ưu tiên các nguồn lực để cấp thiết xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn của ngành. Đối với thủy sản là lĩnh vực mới, nhiều tiêu chuẩn và qui chuẩn kinh tế, kỹ thuật cho ngành cần được xây dựng. 

Sự phối hợp và hỗ trợ của các cơ quan chức năng khác

Quản lý chất lượng thủy sản nuôi

Cuộc đấu tranh với những rào cản kỹ thuật từ các thị trường NK đã đạt được những thành công nhất định, chẳng hạn Nhật Bản đã chấp nhận tăng mức dư lượng ethoxyquin trong tôm NK, tạo điều kiện thuận lợi hơn đêể XK tôm của nước ta sang Nhật Bản. Tuy nhiên, theo bà Trần Bích Nga, Phó Cục trưởng Quản lý Chất lượng Nông, lâm sản và Thủy sản, luôn xuất hiện các rào cản thương mại từ phía các nước NK. Chẳng hạn, một số nước đang tiếp tục đưa ra cảnh báo lô hàng nhiễm dư lượng một số kháng sinh như Trifluralin và Enrofloxacinsử dụng trong NTTS.

Hoa Kỳ cũng đưa ra luật Nông nghiệp mới, chuyển thanh tra cá da trơn từ Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) sang Bộ Nông nghiệp, gây thêm khó khăn cho việc XK cá tra của nước ta vào Mỹ do phải đáp ứng những tiêu chuẩn phức tạp trong suốt chuỗi sản xuất cá tra ngay từ khâu nuôi cá. Bộ NN&PTNT đang phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Ngoại giao và các bộ liên quan tích cực đấu tranh, yêu cầu Mỹ không dựng thêm những rào cản đối với thương mại cá tra Việt Nam.

Đối với ngành khai thác, bà Nga đề nghị cần chú trọng nhiều hơn vào việc khắc phục những sai lỗi theo các khuyến cáo và kiến nghị của các đoàn thanh tra nước ngoài khi đến thăm các cơ sở khai thác để đảm bảo khai thác bền vững, chống tình trạng khai thác không hợp pháp, không quản lý và không báo cáo (IUU). Yêu cầu này là rất thiết thực để có đủ điều kiện để cấp chứng nhận xuất xứ cho lô hàng khai thác khi XK.

Bà Nga cho biết thêm: “Năm 2014 được Bộ NN&PTNT chọn là năm thứ tư liên tiếp về quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp và ATTP nông, lâm, thủy sản. Trong năm 2013, số cơ sở cung cấp vật tư nông nghiệp và NTTS được thống kê để kiểm tra định kỳ còn thấp, vì vậy số cơ sở đã được kiểm tra còn rất thấp. Trong năm 2014, sẽ tập trung kiểm tra các cơ sở có nhiều ’vấn đề’.”.

Phòng chống dịch bệnh

Năm 2013 ghi nhận sự nỗ lực có hiệu quả của công tác quản lý dịch bệnh EMS trên tôm, góp phần phục hồi đáng kể sản lượng tôm chân trắng. Tuy nhiên, theo ông Trần Đình Luân, Phó Cục trưởng Thú y, hoạt động NTTS, nhất là nuôi tôm đã phá vỡ quy hoạch rất nhiều, trong khi điều kiện cơ sở hạ tầng không đầy đủ, khiến việc quản lý dịch bệnh rất khó khăn. Hơn nữa, dịch bệnh lại chủ yếu phát sinh từ các mô hình nuôi nhỏ lẻ, tự phát của người dân và do chưa kiểm dịch hết con giống NK. Ông Luân nhận xét: “TCTS và Cục Thú y cần phối hợp chặt chẽ trong công tác quan trắc cảnh báo môi trường và kiểm soát dịch bệnh tôm. Trong năm 2013 sự phối hợp đó chưa tốt, năm 2014, phải làm tốt hơn. Cần chia sẻ thông tin giữa hai đơn vị về diện tích nuôi, diện tích bị bệnh…. và cả số lượng tôm giống NK để kiểm tra chéo và giám sát chặt chẽ đầu ra của con giống”.

Tổng Cục trưởng Vũ Văn Tám kết luận: “Công tác trước mắt của lĩnh vực NTTS là tính toán lại các chỉ tiêu đặt ra đối với nuôi tôm năm 2014, nhất là nuôi tôm chân trắng. Hiện tại, cần giữ ổn định diện tích và tăng cường quản lý vùng nuôi, bám sát quy hoạch. Việc mở rộng diện tích cần tính toán theo tín hiệu thị trường để điều chỉnh cho phù hợp, nhằm đảm bảo kiểm soát được dịch bệnh, phòng chống thiên tai và đảm bảo hiệu quả cho người nuôi”.

Nguồn: Thương Mại Thủy Sản số 170, tháng 02/2014

Bài viết liên quan