Tập huấn quốc gia về quản lý nghề cá xa bờ tại Việt Nam
Trong các ngày 15-18 tháng 10 năm 2013, tại Hải Phòng, Trung tâm phát triển nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC) phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức Khóa tập huấn Quốc gia về quản lý nghề cá xa bờ tại Việt Nam. Mục tiêu của khóa tập huấn nhằm đào tạo về quản lý nghề cá xa bờ, biển khơi và công tác theo dõi, kiểm tra, giám sát (MCS). Tham dự Khóa tập huấn có đại diện SEAFDEC, các đơn vị trực thuộc Tổng cục Thủy sản và Sở NN&PTNT một số tỉnh ven biển.
Khóa tập huấn đã tập trung thảo luận về tầm quan trọng của quản lý nguồn lợi đối với thủy sản bền vững; quản lý nguồn lợi dựa trên hệ thống theo dõi, kiểm tra, giám sát (MCS); các biện pháp MCS để quản lý nghề cá xa bờ và vùng lộng.
Quản lý nguồn lợi chặt chẽ sẽ giúp phát triển thủy sản một cách bền vững và cân bằng. MCS là một công cụ quản lý rất hiệu quả và được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới cũng như khu vực. Tuy nhiên ở Việt Nam, cơ sở hạ tầng còn hạn chế, thông tin giữa các cấp chưa thông suốt, khiến các bước thực hiện theo dõi, kiểm tra và giám sát diễn ra khó khăn và không chính xác. Đối với nghề khai thác thủy sản, các thông tin về sản lượng, cường lực khai thác, nguồn lợi chưa được thu thập và đo lường một cách đồng bộ, đồng nghĩa với việc phân tích, dự báo các hoạt động khai thác phục vụ quản lý không được cụ thể và hợp lý. Từ đó giai đoạn kiểm soát sẽ khó khăn để thiết lập các biện pháp bao gồm cụ thể hóa các quy định nguồn lợi có thể khai thác. Ở giai đoạn giám sát, nước ta hiện nay còn hạn chế về số lượng tàu kiểm ngư, không có máy bay tuần tra, quan sát viên trên tàu và điều tra viên chưa có dẫn đến việc giám sát không theo sát được quá trình khai thác của ngư dân.
Tại Hội thảo, đại diện SEAFDEC đã giới thiệu một số bài học về phương pháp quản lý nghề cá dựa trên nguồn lợi của Nhật Bản, theo đó, hiện nay Nhật bản đang áp dụng việc quản lý tàu thuyền thông qua luật đăng ký tàu biển; quản lý các yếu tố đầu vào (số lượng tàu thuyền, kích cỡ tàu thuyền, ngư cụ khai thác và các biện pháp khai thác); bên cạnh đó Nhật Bản còn quản lý chặt chẽ các yếu tố đầu ra thông qua việc quản lý Tổng sản lượng tối đa cho phép khai thác, quản lý các yếu tố kỹ thuật (Thời gian khai thác, vùng khai thác, kích cỡ mắt lưới và các quy định về ngư cụ…).
Tại Nhật Bản, Luật Đăng ký tàu biển được thực hiện nghiêm ngặt và chính xác, giúp các cơ quan chức năng quản lý số lượng tàu biển chính xác, từ đó đưa ra các chỉ thị nhằm quản lý mức độ khai thác hợp lý theo khu vực và thời vụ. Đồng thời, việc quản lý về các yếu tố đầu vào như quản lý sản lượng khai thác, các yếu tố kĩ thuật như thời gian đánh bắt, vùng đánh bắt, các phương tiện đánh bắt cũng được các cơ quan chức năng thực hiện dựa trên các quy định cụ thể, giúp quản lý được nguồn lợi mà vẫn đảm bảo sản lượng.
Trong khuôn khổ Hội thảo, xu hướng phát triển và quản lý nghề cá xa bờ khu vực Đông Nam Á cũng đã được các đại biểu tập trung thảo luận. Xoay quanh các vấn đề về (1) Phân vùng đánh cá các quốc gia khu vực Đông Nam Á, (2) Phân loại các nghề cá quy mô nhỏ và quy mô lớn, (3) Thống kê số lượng tàu cá, các ngư cụ chính và số lượng ngư dân.
Theo đánh giá được trình bày tại Hội thảo, vùng biển khu vực Đông Nam Á đang bị khai thác quá mức nhiều loài, tổng sản lượng hải sản đã tới hạn vì các ngư trường chính đã bị khai thác hoàn toàn hoặc quá mức. Môi trường sống bị suy giảm gây ra nhiều tác động tiêu cực. Xuất hiện những mâu thuẫn về quyền tài sản giữa nghề cá quy mô nhỏ và quy mô lớn.
Từ thực trạng là nghề cá ven bờ đang ở trạng thái khai thác quá mức nên nhiều quốc gia đã xem xét tới đẩy mạnh nghề cá xa bờ nhằm giảm thiểu nghề cá ven bờ bị quá tải.
Tuy nhiên với thực trạng và điều kiện hiện của các nước trong khu vực Đông Nam Á thì việc phát triển nghề cá xa bờ chưa hoàn toàn thuyết phục và có căn cứ.
• Nghề cá đáy: Vùng khai thác ở độ sâu 100m đã bị khai thác hoàn toàn, hơn nữa chưa có cơ sở khoa học cho thấy ở độ sâu cao hơn sẽ có trữ lượng khai thác lớn. Đồng thời giá trị kinh tế từ các sản phẩm khai thác được ở vùng đáy là thấp, các phương tiện đánh bắt ở vùng sâu yêu cầu đầu tư tốn kém và tiêu tốn nhiều nhiên liệu hơn.
• Nghề cá nổi: Các loài đánh bắt trong vùng xa bờ bao gồm các loại cá nổi kích thước nhỏ và có trá trị thấp. Từ đó cho thấy việc tìm kiếm và đánh bắt các loài kích thước nhỏ trong vùng biển xa bờ là không hợp lý về vấn đề tài chính do đầu tư nhiều mà giá trị sản phẩm không cao.
Đại điện SEAFDEC cũng đã giới thiệu về kinh nghiệm đồng quản lý nghề cá xa bờ của Nhật Bản. Tại Nhật bản, trước tình trạng nguồn lợi có dấu hiệu suy giảm, Chính phủ đã xây dựng kế hoạch phục hồi nguồn lợi thông qua việc thành lập Ủy ban điều phối nghề cá biển bao gồm Chính phủ, đại diện ngư dân và các chuyên gia để họp bàn về các nội dung của các kế hoạch phục hồi nguồn lợi. Kế hoạch được đưa ra nhằm thực hiện 3 vấn đề chính:
• Giảm thiểu số lượng tàu thuyền khai thác, tạm dừng khai thác với một số loài hoặc vùng khai thác đang ở mức báo động;
• Duy trì nguồn lợi bằng cách thả giống và nhân giống, bảo vệ cá bột;
• Cải thiện môi trường ở các ngư trường khai thác bằng các hành động xây dựng các rừng rong biển, làm sạch đáy biển theo lộ trình.
Thông qua thảo luận giữa chính phủ, ngư dân và các chuyên gia, vấn đề quản lý nguồn lợi được thực hiện tốt hơn do có mỗi liên hệ thực tế nhất từ ngư dân, những người trực tiếp gắn liền với quyền lợi và trách nhiệm. Từ đó tạo ra mỗi liên hệ chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và người ngư dân trong việc thực hiện các kế hoạch, đây là một cách quản lý rất thành công ở Nhật Bản so với cách quản lý từ Trung ương xuống.
Bên cạnh đó, Nhật Bản đã xây dựng kế hoạch đền bù cho ngư dân khi bị mất thu nhập:
• Ngư dân bị mất thu nhập trong quá trình thực hiện kế hoạch quản lý nguồn lợi sẽ được đền bù bởi bảo hiểm nghề cá (75% do Chính phủ chi trả);
• Trong trường hợp giá nhiên liệu, thức ăn cho nuôi trồng thủy sản cao trong thời gian dài, chi phí đề bù sẽ được chi trả bởi bảo hiểm nghề cá (75% do Chính phủ chi trả).
Bằng việc đưa ra chính sách đền bù thu nhập gắn liền với kế hoạch bảo vệ nguồn lợi, các kế hoạch bảo vệ nguồn lợi được ngư dân tin tưởng và có động lực thực hiện, Chính phủ Nhật Bản đã cho ngư dân thấy được trách nhiệm và lợi ích từ việc quản lý nguồn lợi là lợi ích chung của cả cộng đồng.
Một nội dung quan trọng cũng đã được giới thiệu trong khóa tập huấn là Các biện pháp nhằm giảm thiểu khai thác IUU. Trong đó, bao gồm: (1) Cơ chế chứng nhận trong khai thác (CDS), đây là công cụ giám sát để quản lý nguồn lợi và chống khai thác bất hợp pháp, được triển khai cấp quốc gia, cấp khu vực và cấp quốc tế. Cơ chế này giám sát tất cả sản lượng từ khi khai thác cho tới điểm cuối cùng; (2) Biện pháp quốc gia có cảng (PSM): Quốc gia có cảng thực hiện giám sát đối với tàu cá nước mình và quốc tế để đảm bảo sản phẩm thủy sản của mình không liên quan đến hoạt động IUU.
Hiệp ước của FAO các biện pháp quốc gia có cảng: Kiểm soát cảng nhằm mục đích loại bỏ các động lực kinh tế dẫn đến đánh bắt và khai thác thủy sản bất hợp pháp. Tuy nhiên khi thực hiện hiệp ước này vướng phải một số khó khăn như thẩm quyền pháp lý bởi các tổ chức khác nhau có liên quan đến việc thực hiện PSM, hiệp ước áp dụng không chỉ với các tàu cá mà còn đối với các tàu trung chuyển và tàu chở hàng.
Trong ba ngày tập trung thảo luận, Khóa tập huấn diễn ra thành công và thu được nhiều kết quả nhất định.
Về phía Việt Nam, toàn bộ các đại biểu thuộc Tổng cục Thủy sản và một số tỉnh ven biển đã có nhiều ý kiến thảo luận trực tiếp với các chuyên gia SEAFDEC nhằm làm sáng tỏ những vấn đề mà ngành thủy sản Việt Nam còn tồn tại, cũng như làm rõ hơn những bài học và phương pháp quản lý thủy sản từ Nhật Bản và một số nước trong khu vực Đông Nam Á. Các chuyên gia đến từ SEAFDEC và Nhật Bản cũng thẳng thắn chia sẻ các bài học kinh nghiệm cũng như chỉ ra những điểm hạn chế của ngành thủy sản Việt Nam, từ đó đưa ra nhiều góp ý về phía Việt Nam. Mặt khác, các chuyên gia của SEAFDEC cũng tiếp thu toàn bộ ý kiến phản biện từ các học viên phía Việt Nam, ghi nhận đó là vấn đề SEAFDEC cần nghiên cứu để phục vụ cho các lần Khóa tập huấn tiếp theo giữa hai bên được diễn ra thành công hơn cũng như có được sự hợp tác và hỗ trợ bền vững hơn trong tương lai.
Nguồn: Tổng cục thủy sản, 25/10/2013