Vai trò của thức ăn tự nhiên trong nuôi trồng thủy sản

Thức ăn tự nhiên, bao gồm thực vật phù du và động vật phù du, chúng đóng vai trò rất quan trọng trong lưới thức ăn của thủy vực tự nhiên và góp phần đáng kể vào việc cân bằng sinh thái của thủy vực. Ngoài ra, các nhóm sinh vật này còn được sử dụng làm sinh vật chỉ thị cho môi trường nước.

ca an
Ảnh minh họa.

Trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt ở giai đoạn phát triển từ ấu trùng/cá bột lên cá giống, thức ăn tự nhiên là thành phần không thể thiếu được của rất nhiều loài cá, giáp xác và thân mềm nước ngọt và lợ, mặn. Ở giai đoạn này, ấu trùng/cá bột rất nhỏ (kích thước miệng nhỏ), chưa phát triển hoàn chỉnh các cơ quan cảm giác (như mắt, xúc giác, cơ quan đường bên) và hệ tiêu hóa chưa hoàn chỉnh là những yếu tố hạn chế việc chọn lựa và sử dụng thức ăn thích hợp trong suốt thời kỳ bắt đầu ăn thức ăn ngoài.

Kích cỡ miệng của cá bột lúc bắt đầu ăn thức ăn ngoài giới hạn kích thước hạt thức ăn vừa với miệng (có thể ăn vào được). Nhìn chung, kích cỡ miệng có liên quan với kích thước cơ thể và phụ thuộc vào đường kính trứng,  thời gian dinh dưỡng bằng noãn hoàng.

Tình tạng phát triển của ống tiêu hóa ở cá bột bắt đầu dinh dưỡng ngoài cũng thể hiện khả năng có thể hay không thể tiêu hóa những thức ăn của cá. Ở một số loài cá ống tiêu hóa đã phát triển với hệ thống enzym chức năng cho phép tiêu hóa các mảnh vụn thức ăn khi mới bắt đầu ăn. Ngược lại, ở một số loài, cá bột không có dạ dày chức năng nhưng chỉ có ống tiêu hóa ngắn với một ít hệ enzym chức năng vào lúc mới bắt đầu ăn ngoài. Do vậy, các loài cá bột này sẽ phải phụ thuộc vào nguồn thức ăn: (1) dễ tiêu hóa (thức ăn phải chứa lượng lớn acid amin tự do và oligopeptide thay vì các phân tử protein phức khó tiêu hóa), (2) chứa hệ enzym chức năng cho phép sự thủy phân (tự phân hủy hạt thức ăn), và (3) cung cấp đầy đủ tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết đòi hỏi bởi cá bột.

Thức ăn nhân tạo thường không đáp ứng được các nhu cầu này và thường dẫn đến tăng trưởng chậm và tỉ lệ sống thấp ở một số loài cá. Trong khi đó, thức ăn tự nhiên hầu như đáp ứng tất cả các tiêu chí cần thiết của cá ở gian đoạn này. Tuy nhiên, để cá có thể bắt được thức ăn, trước hết nó phải được phát hiện và vì thế mức độ phát triển của các cơ quan cảm giác như cơ quan tiếp nhận ánh sáng (mắt), tiếp nhận hóa học (cơ quan khứu giác, nụ vị giác) và tiếp nhận cơ học (đường bên) là yếu tố quyết định. Ví dụ như mắt của cá bột thường chỉ có tế bào hình nón trong võng mạc làm cho khả năng nhìn kém, trong khi đó  mắt của cá giống có tế bào hình que với nhiều sắc tố thị giác trong võng mạc. Hơn nữa, sinh vật thức ăn tự nhiên thường có mức tương phản tốt hơn thức ăn nhân tạo và nói chung có tác động kích thích do sự chuyển động liên tục giúp tăng khả năng nhận biết bởi cá bột. Tương tự, hoạt động bơi lội của sinh vật thức ăn tự nhiên thường đảm bảo sự phân bố thức ăn đều trong tầng nước, tăng cơ hội bắt gặp thức ăn của cá bột đang trong giai đoạn phát triển với khả năng di chuyển chậm chạp.

Trong các ao nuôi thủy sản, khẩu phần ăn tự nhiên của hầu hết các loài cá, giáp xác và thân mềm rất đa dạng bao gồm nhiều loài tảo khác nhau (tảo khuê, tảo lục, tảo có roi…) và các nhóm động vật phù du (luân trùng, giáp xác râu ngành, giáp xác chân chèo, ấu trùng mười chân….). Đối với các thủy vực nước ngọt, luân trùng (nhất là giống Brachionus) và trứng nước (giống Moina) là các nhóm thức ăn tự nhiên chiếm mật độ cao và là nguồn thức ăn quan trọng của cá ở giai đoạn sau khi nở.

Tảo

Tảo là mắt xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn của thủy vực và là nguồn thức ăn rất quan trọng đối với các giai đoạn đầu của nhiều loài cá, giáp xác và hai mảnh vỏ. Hiện nay có trên 40 loài tảo khác nhau đã được phân lập và gây nuôi trên thế giới, trong đó một số giống loài được sử dụng rất phổ biến trong sản xuất giống các đối tượng hải sản bao gồm tảo khuê Skeletonema costatum, Thalassiosira pseudonana, Chaetoceros gracilis, C. calcitrans, tảo có roi Isochrysis galbana, Tetraselmis suecica, Monochrysis lutheri và tảo lục Chlorella spp.

tao

Luân trùng (Rotifera)

Với các đặc điểm như kích thước nhỏ (100-500µm), bơi lội chậm, chịu đựng tốt các yếu tố môi trường, tốc độ sinh sản nhanh, luân trùng trở thành một trong những loại thức ăn tự nhiên ban đầu quan trọng của nhiều loài tôm, cá khác nhau. Luân trùng nước lợ Brachionus plicatilis được sử dụng ở giai đoạn đầu của trên 70 loài cá biển và 18 loài giáp xác. Rất nhiều tác giả đã chứng minh rằng giới hạn trong sản xuất và ương giống của nhiều loài tôm, cá phần lớn liên quan đến việc hạn chế nguồn luân trùng. Luân trùng nước ngọt Brachionus angularis là thành phần thức ăn quan trọng cho các loài cá bột nước ngọt như cá bống tượng, thát lát… Kết quả nghiên cứu trên cá bột bống tượng từ 1-10 ngày tuổi cho thấy nếu cá được cho ăn luân trùng (B. angularis) thì tỉ lệ sống cao hơn đáng kể (35%) so với cho ăn bột đậu nành và lòng đỏ trứng (19%) (Trương Ngô Bích Ngọc, 2010).

luan trung

Trứng nước (Moina sp.)

Trứng nước thuộc nhóm giáp xác râu ngành (Cladocera) là thành phần động vật phù du chủ yếu trong các ao nuôi thủy sản nước ngọt. Trứng nước được sử dụng phổ biến trong ương nuôi rất nhiều loài cá khác nhau ở giai đoạn từ cá hương lên cá giống như cá trê, cá tra, cá lóc, cá rô… Trong ao mật độ trứng nước thường cao hơn ngoài thủy vực nước chảy, nhất là ở các ao được bón phân trước đó.

Giáp xác chân chèo (Copepoda)

Giáp xác chân chèo trong môi trường nước mặn phần lớn là các giống loài thuộc bộ Calanoida là thành phần thức ăn chủ yếu (>70%) trong ống tiêu hóa của hầu hết các loài cá biển. Trong môi trường nước ngọt, các giống loài thường gặp thuộc bộ Cyclopoida như Cyclops, Eucyclops… cũng là thành phần thức ăn quan trọng cho cá con.

Tóm lại, thức ăn tự nhiên rất cần thiết và quan trọng đối với cá con từ giai đoạn phát triển cá bột lên cá giống do kích thước và giá trị dinh dưỡng thích hợp của chúng. Tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên làm thức ăn cho cá con bằng cách bón phân gây màu nước trước khi thả giống sẽ giúp gia tăng chất lượng cá giống và năng suất cá nuôi.

UV Việt Nam
Đăng ngày 05/08/2012
PGs.Ts. Vũ Ngọc Út - Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ
Kỹ thuật

Tổng quan về công nghệ MBBR trong nuôi trồng thủy sản

MBBR là Moving Bed Biofilm Reactor, hứa hẹn là công nghệ xử lý nước thải ưu việt trong nuôi trồng thủy sản.

công nghệ MBBR
• 18:17 25/09/2021

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP không chỉ loại bỏ hiệu quả nồng độ Ammonium mà còn xử lý đến 90% chất hữu cơ.

Chế biến cá tra
• 07:00 22/04/2020

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản bằng cảm biến nano

Sử dụng được cả trên bờ, dưới nước để quan trắc chất lượng nước, hệ thống cảm biến nano do Viện Công nghệ nano (INT) thuộc Đại học Quốc gia TPHCM nghiên cứu giúp người nuôi trồng thủy sản yên tâm khi chất lượng nước nuôi được cảnh báo tự động kịp thời khi có sự cố.

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản
• 14:35 05/02/2020

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng.Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ
• 08:46 30/10/2019

Lộ trình sử dụng thức ăn hiệu quả cho tôm

Hình dạng thức ăn tưởng chừng đơn giản nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng bắt mồi, tiêu hóa và tốc độ tăng trưởng của tôm. Việc lựa chọn đúng dạng thức ăn cho từng giai đoạn không chỉ giúp tối ưu hiệu quả dinh dưỡng mà còn góp phần duy trì môi trường ao nuôi ổn định.

cho tôm ăn
• 00:00 25/02/2026

Vôi nông nghiệp và vôi công nghiệp: Khác nhau ở đâu và vì sao không nên dùng lẫn?

Vôi là vật tư quen thuộc trong nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, nhưng việc nhầm lẫn giữa vôi nông nghiệp và vôi công nghiệp vẫn diễn ra phổ biến. Sử dụng sai loại không chỉ làm giảm hiệu quả cải tạo môi trường mà còn tiềm ẩn rủi ro cho cây trồng, vật nuôi.

vôi nuôi tôm
• 00:00 23/02/2026

Ứng dụng chế phẩm sinh học trong phòng ngừa bệnh thủy sản

Một trong những giải pháp được đánh giá cao hiện nay là ứng dụng chế phẩm sinh học trong phòng ngừa bệnh cho tôm, cá. Đây không chỉ là hướng đi thay thế hóa chất truyền thống mà còn mở ra triển vọng phát triển bền vững cho ngành thủy sản Việt Nam.

chế phẩm sinh học thủy sản
• 00:00 21/02/2026

Bỏ túi bí quyết giảm hệ số FCR xuống dưới 1.2 mà không cần đổi loại thức ăn

Trong cơ cấu chi phí nuôi tôm và cá thâm canh, thức ăn thường chiếm 50–65% tổng chi phí sản xuất. Vì vậy, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) không chỉ là một chỉ số kỹ thuật mà còn là thước đo trực tiếp của hiệu quả kinh tế. Chênh lệch 0,1 FCR ở quy mô vài chục tấn có thể tạo ra khoảng cách lợi nhuận rất lớn.

tôm
• 10:00 14/02/2026

Tại sao ao nuôi nên dùng đèn UV thay vì thuốc tím hoặc Chlorine?

Xử lý nước là bước bắt buộc trong nuôi tôm. Từ trước đến nay, Chlorine và thuốc tím (KMnO₄) là lựa chọn phổ biến vì giá rẻ và tác dụng nhanh. Tuy nhiên, khi mật độ nuôi ngày càng cao và yêu cầu an toàn sinh học khắt khe hơn, việc phụ thuộc vào hóa chất đang bộc lộ nhiều rủi ro.

ao nuôi
• 08:22 25/02/2026

Chính thức mở cổng đăng ký trước Vietshrimp Asia 2026 & Aquaculture Vietnam 2026 kết nối toàn bộ ngành thủy sản

Trong bối cảnh ngành thủy sản Việt Nam đang đứng trước những cơ hội mới về thị trường, công nghệ và phát triển bền vững, nhu cầu tìm kiếm giải pháp toàn diện, từ con giống, dinh dưỡng, công nghệ nuôi, chế biến đến xuất khẩu,trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Nhằm tạo ra một nền tảng kết nối chiến lược cho cộng đồng doanh nghiệp, chuyên gia và người nuôi, VietShrimp Asia 2026 lần đầu tiên tổ chức cùng Aquaculture Vietnam 2026 tạo nên kỳ triển lãm với quy mô mở rộng, toàn diện, quốc tế hơn bao giờ hết.

Vietshrimp
• 08:22 25/02/2026

Ngành nuôi tôm Việt Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Trong nhiều năm, nuôi tôm được xem là một trong những ngành nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh và đóng góp lớn cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Tuy nhiên, bối cảnh khí hậu hiện nay đang đặt ngành này trước một thực tế khác: rủi ro không còn mang tính mùa vụ, mà đang chuyển thành rủi ro cấu trúc.

tôm
• 08:22 25/02/2026

Sai lầm thường gặp khi phơi đáy ao

Trong nuôi trồng thủy sản, công đoạn phơi đáy ao sau mỗi vụ nuôi được xem là bước làm mới môi trường, giúp loại bỏ mầm bệnh và tạo nền tảng cho vụ nuôi tiếp theo. Tuy nhiên, nhiều hộ nuôi vẫn mắc phải những sai lầm cơ bản, khiến hiệu quả xử lý giảm sút, thậm chí gây thiệt hại lớn.

đáy ao nuôi
• 08:22 25/02/2026

Vôi nông nghiệp và vôi công nghiệp: Khác nhau ở đâu và vì sao không nên dùng lẫn?

Vôi là vật tư quen thuộc trong nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, nhưng việc nhầm lẫn giữa vôi nông nghiệp và vôi công nghiệp vẫn diễn ra phổ biến. Sử dụng sai loại không chỉ làm giảm hiệu quả cải tạo môi trường mà còn tiềm ẩn rủi ro cho cây trồng, vật nuôi.

vôi nuôi tôm
• 08:22 25/02/2026
Some text some message..