Ở hai địa phương điển hình
Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều cơ sở sản xuất thức ăn và sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản. Số liệu của Sở NN&MT thành phố, trên địa bàn có 273 cơ sở hoạt động, trong đó, 102 cơ sở đặt trụ sở chính tại thành phố nhưng gia công sản phẩm ở nhiều địa phương như Cần Thơ, Tây Ninh, Đồng Tháp, Đồng Nai, Gia Lai... và 171 cơ sở hoạt động tại thành phố (có 38 cơ sở đạt tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2015). Trong 11 tháng đầu năm 2025, tiếp nhận 2.162 hồ sơ công bố hợp quy cho 8.254 sản phẩm.
Tồn tại lớn nhất hiện nay là phần mềm cơ sở dữ liệu đôi lúc bị lỗi hệ thống nên không cập nhật, tra cứu thông tin được. Điển hình là từ ngày 14/8/2025 đến 6/10/2025, cập nhật dữ liệu nhưng hệ thống đã không lưu lại thông tin vừa cập nhật. Trong khi thành phố có nhiều cơ sở đặt trụ sở chính nhưng các sản phẩm công bố được sản xuất và gia công tại nhiều địa phương, việc truy cập đối chiếu số liệu do cơ sở báo cáo với số liệu ở các tỉnh trên phần mềm cơ sở dữ liệu của Cục Thủy sản và Kiểm ngư xảy ra nhiều khó khăn. Khi hệ thống bị lỗi thì công tác quản lý không thực hiện được.
Tỉnh Đồng Tháp là một trọng điểm nuôi trồng thủy sản, đặc biệt về cá tra xuất khẩu. Sở NN&MT tỉnh cho biết, diện tích nuôi thuỷ sản hàng năm trên 20.600 ha, sản lượng trên 920.000 tấn, có nhu cầu lớn về thức ăn và sản phẩm xử lý môi trường.
Số nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản của tỉnh cấp giấy chứng nhận còn hiệu lực là 42 với tổng công suất hàng năm 4 triệu tấn. Số cơ sở sản xuất sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường là 11 với tổng công suất hàng năm 79.000 tấn. Trong 11 tháng đầu năm 2025, tiếp nhận công bố hợp quy 426 sản phẩm, gồm 330 sản phẩm thức ăn hỗn hợp, 42 sản phẩm thức ăn bổ sung, 16 nguyên liệu thức ăn, 38 sản phẩm xử lý cải tạo môi trường.
Từ năm 2023 đến tháng 6/2025 tổ chức 17 đợt kiểm tra 250 cơ sở, lấy 102 mẫu, phát hiện 24 vụ vi phạm, xử phạt 234,8 triệu đồng. Đồng thời, kiểm tra 125 mẫu, có 24 cơ sở vi phạm, xử phạt 178 triệu đồng. Vi phạm chủ yếu liên quan đến chất lượng, nhãn hàng hóa, hoạt chất không đạt. Tính ra tỷ lệ vi phạm còn cao, từ 20-25% số mẫu kiểm tra.
Lĩnh vực này đang gặp khó khăn ở nguồn nguyên liệu sản xuất không ổn định, phần lớn phụ thuộc nhập khẩu như bột cá, bã đậu nành dẫn tới giá thành cao. Thức ăn cho cá giống còn quá ít, chưa đáp ứng nhu cầu. Tình trạng đăng ký kinh doanh một nơi, sản xuất nơi khác gây khó khăn cho công tác kiểm tra, đánh giá điều kiện sản xuất thực tế.
Nghiên cứu sản xuất thức ăn chất lượng cao ở nước ta đã góp phần nâng cao hiệu quả nuôi cá tra. Ảnh minh họa
Nhà máy sản xuất dưới 60% công suất, chất lượng chưa ổn định
Cục Thủy sản và Kiểm ngư cho biết, cả nước tính đến tháng 10/2025, số cơ sở đủ điều kiện sản xuất phân theo nhóm cụ thể như sau.
- Thức ăn thuỷ sản: Thức ăn bổ sung 419 cơ sở, thức ăn hỗn hợp 155 cơ sở, thức ăn tươi sống 12 cơ sở, nguyên liệu sản xuất thức ăn 174 cơ sở.
- Sản phẩm xử lý môi trường: Chế phẩm sinh học 404 cơ sở, hoá chất 367 cơ sở, hỗn hợp khoáng và vitamin 318 cơ sở, nguyên liệu 33 cơ sở.
- Sản phẩm vừa sử dụng làm thức ăn vừa xử lý môi trường: Chế phẩm sinh học 173 cơ sở, hỗn hợp khoáng và vitamin 154 cơ sở, nguyên liệu 12 cơ sở.
Nhìn chung, nhà máy của các doanh nghiệp sản xuất mới đạt dưới 60% công suất nên hiệu quả kinh tế chưa cao.
Về sản phẩm, đến tháng 10/2025, thống kê trên cơ sở dữ liệu có 51.857 sản phẩm đang kinh doanh, gồm 46.256 sản phẩm sản xuất trong nước và 5.601 sản phẩm nhập khẩu.
Trong 10 tháng đầu năm, có 488 doanh nghiệp nhập khẩu 2.102.689 tấn; còn xuất khẩu trong 7 tháng đầu năm được 80.000 tấn, giá trị 95 triệu USD.
Những tồn tại, hạn chế đáng quan tâm: Nguồn nguyên liệu sản xuất thức ăn thuỷ sản chủ yếu phụ thuộc nhập khẩu, giá thành vận chuyển cao hơn một số nước như Ấn Độ, Bangladesh do đường xa hơn. Các nguồn nguyên liệu sản xuất trong nước chủ yếu là nguyên liệu thô, số lượng ít, chất lượng chưa ổn định. Nguồn nguyên liệu thay thế chủ yếu là phụ phẩm trong quá trình sản xuất thực phẩm (sinh khối vi sinh vật, phụ phẩm từ lên men) chỉ sử dụng thay thế nguồn đạm khoảng 3-5%.
Chất lượng sản phẩm lưu thông trên thị trường chưa ổn định do một số tổ chức, cá nhân vi phạm về điều kiện sản xuất, gian lận về xuất xứ và chất lượng. Một số hành vi lợi dụng vào chính sách “Tự công bố, tự chịu trách nhiệm” để gian lận trong công bố chất lượng và xuất xứ hàng hoá. Công tác quản lý ở một số địa phương sau sát nhập còn lúng túng trong kiểm tra và xử lý vi phạm.
Sang năm 2026, chủ trương tăng cường công tác kiểm tra về điều kiện sản xuất, chất lượng sản phẩm; Ngăn chặn các hành vi vi phạm trong công bố thông tin sản phẩm, cung cấp thông tin sản phẩm trước khi lưu thông trên thị trường. Khuyến khích các doanh nghiệp nghiên cứu, sản xuất nguyên liệu thay thế nguyên liệu nhập khẩu, giảm chi phí trong sản xuất. Đặc biệt, hoàn thiện cơ sở dữ liệu về thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản phù hợp với quy định mới.