Vi khuẩn gây bệnh phân trắng bị ức chế bởi Cholesterol và Phospholipids

Chế độ ăn bổ sung cholesterol và phospholipids giúp tôm tăng sức chống chọi với vi khuẩn Vibrio alginolyticus gây bệnh phân trắng.

Bệnh phân trắng trên tôm
Vi khuẩn Vibrio alginolyticus là một trong những tác nhân gây bệnh phân trắng trên tôm.

Tầm quan trọng của phospholipid và cholesterol đối với tôm

Phospholipid là các thành phần cấu tạo chủ yếu của màng tế bào và có vai trò trao đổi chất tự nhiên cũng như tế bào, có chức năng rất quan trọng cho hoạt động bình thường của các tế bào và cơ quan và tham gia vào quá trình chuyển hóa trung gian lipid. 

Khẩu phần ăn chứa phospholipid, chẳng hạn như lecithin từ đậu nành thúc đẩy tăng trưởng tối ưu và tăng tốc độ chuyển đổi thức ăn trong khoảng 1 – 6.5%  đối với các loài khác nhau ở các giai đoạn khác nhau. Tôm có thể tổng hợp phospholipid, nhưng quá trình sinh tổng hợp này thường không thể đáp ứng nhu cầu trao đổi chất của chúng trong giai đoạn giống và ấu trùng.

Cholesterol có chức năng như một thành phần của màng tế bào, có vai trò quan trọng trong việc duy trì độ nhớt của màng. Tôm không thể tự tổng hợp cholesterol. Hàm lượng cholesterol tối ưu trong khẩu phần thức ăn cho tôm đã được trình bày là 0.2 - 2%, và tùy thuộc vào loài, giai đoạn, và các thành phần khác trong khẩu phần thức ăn.

Phospholipid và cholesterol là hai chất béo thiết yếu cho tôm he (penaeid - bao gồm tôm thẻ chân trắng và tôm sú), nhưng các thông tin liên quan nhu cầu trong khẩu phần ăn của chúng còn hạn chế.

Một số nghiên cứu đã chứng minh rằng bổ sung cholesterol vừa phải giúp kích thích tăng trưởng và tăng cường tỉ lệ sống ở tôm sú Penaeus monodon (Sheen et al. 1994) và tôm thẻ Litopenaeus Vannamei (Gong và đồng sự, 2000). Tương tự, khi bổ sung cholesterol với các nồng độ khác nhau vào khẩu phần ăn của tôm thẻ chân trắng cho thấy tôm  gia tăng khả năng chịu mặn (Duerr và Walsh, 1996) và trên cả tôm sú P. monodon (Paibulkichakul et al., 1998) . Tuy nhiên, Teshima và cộng sự, (1997) cũng đề nghị rằng điều quan trọng là xác định chế độ ăn uống phù hợp. Mức cholesterol vì nồng độ sterol  cao trong chế độ ăn có thể dẫn đến ức chế sinh trưởng ở giáp xác.

Do đó, nghiên cứu được tiến hành để đánh giá ảnh hưởng của cholesterol (CHO) và phospholipids (PL) đối với hiệu suất tăng trưởng, phản ứng miễn dịch, biểu hiện của các gen liên quan đến miễn dịch và khả năng chống lại vi khuẩn Vibrio alginolyticus – một trong những tác nhân gây bệnh phân trắng trên tôm thẻ.

Nghiên cứu ứng dụng cholesterol và phospholipids đối với tôm thẻ chân trắng

Thiết lập nghiên cứu

Thiết kế thử nghiệm 3 × 3 đã được thực hiện với chín chế độ ăn thử nghiệm có ba mức cholesterol (0, 0.2% và 0.4%) và ba mức phospholipids (0, 2% và 4%) trong vòng 56 ngày. Sau đó tất cả tôm được cảm nhiễm với vi khuẩn Vibrio alginolyticus và theo dõi tỉ lệ chết trong vòng 14 ngày.

Kết quả

Kết quả chỉ ra rằng hiệu suất tăng trưởng tăng đáng kể cùng với sự gia tăng nồng độ cholesterol chế độ ăn uống. Nghiệm thức bổ sung cholesterol 0.4% có tốc độ tăng trưởng cao hơn so với nghiệm thức bổ sung 0.2 % và thấp nhất là nghiệm thức đối chứng. Tuy nhiên, không có sự khác biệt về tăng trưởng giữa nghiệm thức bổ sung phospholipids. 

Superoxide effutase (SOD)(*) và lysozyme cũng bị ảnh hưởng đáng kể bởi mức cholesterol. Hơn nữa, sự tương tác giữa hai chất phụ gia này chỉ được phát hiện trong hoạt động SOD. Tôm được cho ăn chế độ ăn thử nghiệm với bổ sung cholesterol và phospholipids cho thấy khả năng chống lại Vibrio alginolyticus tốt hơn so với nghiệm thức đối chứng và đạt giá trị cao nhất ở nghiệm thức cholesterol 0,4% và phospholipids 4%.  

Tóm lại, các xu hướng hiện tại trong công thức thức ăn nuôi thủy sản thúc đẩy việc áp dụng các chất phụ gia tăng cường tiêu hóa, cải thiện hiệu quả hấp thu các chất dinh dưỡng, tăng cường sức đề kháng. Bổ sung cholesterol và phospholipids ở mức cholesterol 0,4% và phospholipids 4% cho thấy khả năng tăng cường miễn dịch và chống chọi với mầm bệnh Vibrio alginolyticus.

(*) SOD: Superoxide effutase là một enzyme thay thế xúc tác sự phân hủy của gốc superoxide thành oxy phân tử thông thường hoặc hydro peroxide. Superoxide được sản xuất như một sản phẩm phụ của quá trình chuyển hóa oxy, nếu không được điều hòa sẽ gây ra nhiều loại tổn thương tế bào.

Đăng ngày 02/03/2020
Như Huỳnh lược dịch
Kỹ thuật

Tổng quan về công nghệ MBBR trong nuôi trồng thủy sản

MBBR là Moving Bed Biofilm Reactor, hứa hẹn là công nghệ xử lý nước thải ưu việt trong nuôi trồng thủy sản.

công nghệ MBBR
• 18:17 25/09/2021

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP không chỉ loại bỏ hiệu quả nồng độ Ammonium mà còn xử lý đến 90% chất hữu cơ.

Chế biến cá tra
• 07:00 22/04/2020

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản bằng cảm biến nano

Sử dụng được cả trên bờ, dưới nước để quan trắc chất lượng nước, hệ thống cảm biến nano do Viện Công nghệ nano (INT) thuộc Đại học Quốc gia TPHCM nghiên cứu giúp người nuôi trồng thủy sản yên tâm khi chất lượng nước nuôi được cảnh báo tự động kịp thời khi có sự cố.

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản
• 14:35 05/02/2020

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng.Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ
• 08:46 30/10/2019

Áp dụng tiến bộ kỹ thuật để nuôi tôm nước lợ đạt hiệu quả cao, bền vững

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh trên thủy sản ngày càng diễn biến phức tạp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nuôi tôm nước lợ được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng suất, giảm rủi ro và hướng đến phát triển bền vững.

Nuôi tôm thẻ
• 12:04 20/01/2026

Nhớt bạt ao nuôi tôm, nguyên nhân và cách xử lý

Nhớt bạt ao nuôi tôm là hiện tượng xuất hiện một lớp nhớt mỏng, trơn, màu trắng đục hoặc vàng nâu bám trên bề mặt bạt ao nuôi (đáy và thành ao). Đây là hiện tượng phổ biến trong ao nuôi tôm lót bạt HDPE và thường xảy ra sau một thời gian nuôi hoặc sau khi ao có nhiều chất hữu cơ tích tụ.

Ao tôm
• 14:04 12/01/2026

Tại sao cá lóc hay ăn thịt lẫn nhau? Kỹ thuật lọc cỡ để không bị hao hụt số lượng

Tập tính ăn thịt đồng loại ở cá lóc là nguyên nhân hàng đầu gây hao hụt đầu con trong nuôi thâm canh. Hiểu rõ bản năng săn mồi và áp dụng kỹ thuật lọc cỡ đúng thời điểm là chìa khóa giúp người nuôi bảo vệ lợi nhuận trong bối cảnh giá thức ăn tăng cao.

Cá lóc
• 08:57 08/01/2026

Kiểm chứng các kinh nghiệm truyền miệng trong ngành nuôi tôm

Nuôi tôm là lĩnh vực có mức độ rủi ro cao, nơi mỗi biến động nhỏ của môi trường đều có thể dẫn đến thiệt hại vô cùng nghiêm trọng.

Nuôi tôm thẻ
• 11:38 02/01/2026

Ngành thủy sản Gia Lai duy trì ổn định sản xuất, tăng cường giải pháp chống khai thác IUU

Trong tháng 01, hoạt động khai thác thủy sản tỉnh Gia Lai chịu tác động lớn của gió mùa Đông Bắc, thường xuyên xuất hiện gió mạnh và biển động, gây không ít khó khăn cho ngư dân.

Tàu cá
• 08:51 04/02/2026

Hơn nửa thập kỷ giữ lửa tại làng Vũ Đại với món cá kho trứ danh

Cá kho làng Vũ Đại không chỉ là món ăn truyền thống mà còn là biểu tượng văn hóa ẩm thực đặc sắc của vùng đất Hà Nam. Với quy trình chế biến kỳ công kéo dài hàng chục tiếng đồng hồ, món ăn này đã khẳng định vị thế đặc sản cao cấp trong các dịp lễ Tết.

Cá kho
• 08:51 04/02/2026

Nuôi tôm ao đất truyền thống hay ao nổi lót bạt mật độ cao

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp và dịch bệnh trên tôm ngày càng khó lường, người nuôi tôm Việt Nam đang đứng trước ngã rẽ quan trọng về việc lựa chọn mô hình canh tác.

Tôm thẻ
• 08:51 04/02/2026

Giải pháp giảm ô nhiễm từ ao nuôi cá tra thâm canh

Nuôi cá tra thâm canh đang mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều hộ dân. Tuy nhiên, đi kèm với hiệu quả kinh tế là nguy cơ ô nhiễm môi trường nước ao nuôi, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cá và môi trường xung quanh.

Cho cá ăn
• 08:51 04/02/2026

Ba việc người nuôi cần làm để cứu đàn cá rô phi khỏi bệnh TiLV

Virus TiLV là nỗi ám ảnh lớn nhất của nghề nuôi cá rô phi với tỷ lệ tử vong lên tới 90%. Do chưa có thuốc đặc trị, sự sống còn của đàn cá phụ thuộc hoàn toàn vào chiến lược phòng thủ chủ động. Dưới đây là ba hành động cấp bách và những nguyên tắc bất di bất dịch để bảo vệ đàn cá trước loại virus nguy hiểm này.

Cá rô phi
• 08:51 04/02/2026
Some text some message..