Khắc phục bệnh ăn yếu và mềm vỏ ở tôm

Nuôi tôm siêu thâm canh, công nghệ cao, để tôm khoẻ mạnh, bà con cần quan tâm và chú trọng các yếu tố quan trọng.

Phòng ngừa bệnh ăn yếu và mềm vỏ ở tôm nuôi
Để tránh thiệt hại nhiều về kinh tế, bà con cần chú ý các dấu hiệu sau cho ao tôm của mình. Ảnh: Tép Bạc

Nguồn tôm giống và chất lượng tôm giống, đây được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu, quyết định thành công mô hình nuôi. Tôm giống có nguồn gốc rõ ràng, do các công ty lớn, tên tuổi, thương hiệu nổi tiếng, kinh doanh sản xuất giống tôm lâu năm, cung ứng có uy tín trên thị trường. Những công ty, có nguồn tôm bố mẹ nhập khẩu, có lý lịch truy xuất, cân đối hợp lý số lần tôm bố mẹ sinh sản…thường sẽ sản xuất ra lô tôm giống chất lượng, đáp ứng nhu cầu thả nuôi. 

Lô tôm giống được thuần độ mặn phù hợp môi trường dự kiến thả nuôi, được kiểm tra các bệnh phổ biến bằng máy PCR…Chất lượng môi trường và các yếu tố liên quan được quyết định từ khi chuẩn bị ao nuôi, bao gồm hệ thống các ao và chức năng riêng biệt. Ao lắng lọc, ao xử lý, ao sẵn sàng, ao nuôi, ao xử lý thải, hệ thống lọc tuần hoàn vận hành đồng bộ, đúng theo chức năng. Trong quá trình ương, nuôi, đảm bảo thời gian chăm dưỡng từng giai đoạn ương tôm giống, nuôi tôm lứa, nuôi tôm thương phẩm, nuôi tôm size lớn…Bà con chủ động san tôm, chuyển ao, giản thưa mật độ nuôi. Kiểm soát số lượng, khối lượng tôm trong ao, kiểm soát trọng lượng cá thể tôm, đánh giá tình trạng sức khoẻ. San, chuyển tôm, là hoạt động gián tiếp, giúp bà con chủ động kiểm soát môi trường ao nuôi. Sử dụng thức ăn nuôi tôm hiệu quả, thông qua sử dụng hợp lý size cỡ thức ăn, hàm lượng đạm, định lượng thức ăn tôm sử dụng hàng ngày, đảm bảo phù hợp thời gian nuôi, giai đoạn nuôi, kích cỡ và trọng lượng tôm nuôi. Bà con nên cho tôm ăn 80% so nhu cầu thực tế, linh động điều chỉnh, giảm lượng ăn 50% khi tôm lột vỏ, khi sức khoẻ tôm kém, khi thời tiết thay đổi, trước và sau khi san, chuyển tôm… hoặc tạm thời ngưng không cho ăn, tuyệt đối không cho tôm ăn dư thừa. 

Kiểm soát lượng thức ăn trong aoCho tôm nuôi ăn đúng liều lượng, hạn chế cho quá nhiều thức ăn làm giảm chất lượng tôm và tổn hại chi phí. Ảnh: nguoinuoitom.vn

Kiểm soát tốt ba yếu tố chúng tôi đề cập trên, bầy tôm nuôi của bà con luôn khoẻ mạnh, hạn chế tối đa dịch bệnh sảy ra trong ao, tôm nuôi được sức đề kháng cao, tôm tăng trưởng nhanh, giữ đầu con, ít hao hụt. Tuy nhiên, khi bà con phát hiện tôm ăn yếu, mềm vỏ, bà con cần xác dịnh rõ nguyên nhân gây ra, nhằm nhanh nhất khắc phục, hạn chế tối đa những tác động xấu sau đó. Hiện tượng tôm ăn yếu thường thấy, tôm trong ao nuôi ăn yếu 50 % so nhu cầu bình thường, đôi khi tôm bỏ ăn. Bà con thấy thời gian canh vó dài hơn bình thường, thức ăn dư thừa trong vó, nước ao nuôi mau dơ, màu tảo đậm nhanh, pH tăng cao…Tôm ăn yếu, chứng tỏ tôm trong ao có liên quan đến các vấn đề bệnh lý như bệnh virus, vi khuẩn, ký sinh trùng…Điển hình các bệnh lý về gan tuỵ, đường ruột... Bệnh gan tuỵ do vi khuẩn Vibrio, phổ biến là các loài V. parahaemolyticus, V. harveyi và V. vulnificus. Bệnh phân trắng do V. harveyi. Bệnh ký sinh trùng, điển hình như trùng 2 roi Gregarine thâm nhập vào ao nuôi gây ra. Gần đây bệnh ký sinh trùng Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) bùng phát trong các ao nuôi tôm công nghệ cao, cũng là nguyên nhân làm tôm ăn yếu, chậm lớn, phân đàn, còi cọc... Các loại khí độc như NH3, NO3, H2S, kim loại nặng… tăng cao, vượt ngưỡng khi thức ăn dư thừa, môi trường nước nuôi ô nhiễm, hoặc pH tăng cao > 8,5, cũng làm tôm ăn yếu hoặc bỏ ăn. Khi thời tiết thay đổi, tôm chuẩn bị lột xác, khi bà con mới san, chuyển tôm sang ao nuôi mới, môi trường mới…cũng làm tôm ăn yếu hoặc bỏ ăn. 

Riêng hiện tượng tôm bị mềm vỏ, thường thấy sau 24 giờ tính từ khi tôm lột xác. Tôm lâu cứng vỏ, vỏ mềm, có hiện tượng tôm khó lột vỏ, vỏ tôm mỏng, vỏ nhăn nheo, sần sùi. Có rất nhiều nguyên nhân, gây ra hiện tượng mềm vỏ trên tôm thẻ chân trắng. Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng trong vùng nước ngọt, vùng nuôi có độ mặn thấp ≤ 10 ‰, môi trường ao nuôi thiếu nhiều khoáng chất, đặc biệt là canxi, phosphor, tôm dễ bị mềm vỏ. Mật độ nuôi cao, lượng khoáng trong thức ăn không đủ, gây thiếu khoáng, tôm mềm vỏ. Hạt sét, phù sa, bùn đáy, kim loại nặng… hàm lượng cao trong ao nuôi, hạn chế hấp thu khoáng. Acid niên mạc dạ dày tôm cao, làm hấp thu khoáng kém. Loại, chất lượng khoáng bà con sử dụng, liên quan bậc khoáng, ảnh hưởng hấp thu khoáng. Hoá trị, độ hoà tan các ion khoáng, ảnh hưởng hấp thu khoáng. Đối kháng giữa các khoáng trong ao nuôi, ảnh hưởng hấp thu khoáng. Ngoài ra, các loại khí độc như NH3, NO2, H2S, kim loại nặng, hàm lượng tăng cao, vượt ngưỡng, làm tôm bị mềm vỏ. Nuôi tôm trong vùng nước độ mặn thấp, độ kiềm thấp ≤ 100 ppm, làm tôm bị mềm vỏ. Tôm bị các bệnh tấn công như bệnh đốm đen, hồng thân, phân trắng, đốm trắng…thường kèm theo hiện tượng tôm bị mềm vỏ, ốp thân. Thức ăn nuôi tôm thiếu các vitamin, đặc biệt là vitamin C, cũng làm tôm bị mềm vỏ

Mềm vỏ ở tômCó nhiều nguyên nhân làm mềm vỏ ở tôm mà người nuôi cần chú ý quan sát. Ảnh: kinhtenongthon.vn

Khi phát hiện tôm ăn yếu, bà con nên chủ động giảm lượng thức ăn 50% so lượng ăn hàng ngày, hoặc ngưng không cho tôm ăn. Nếu có điều kiện, bà con nên thay nước đã xử lý kỹ từ ao sẵn sàng qua. Đồng thời, đánh giá tình trạng sức khoẻ tôm, chọn loại hoá chất diệt khuẩn nước phù hợp. Bà con nên dùng Chloramine B C6H5SO2NClNa để xử lý nước, diệt khuẩn, diệt ký sinh trùng…vì hoá chất này ít gây sốc tôm. Về liều lượng, luôn tuyệt đối tuân thủ hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất thuốc, kết hợp diễn biến thực tế thời tiết, thông số môi trường, trọng lượng tôm, sức khoẻ tôm trong ao…, lựa chọn liều lượng phù hợp, sử dụng đạt mục đích mong muốn. Sau khi diệt khuẩn, cần đánh chế phẩm sinh học, gây nuôi lại hệ vi sinh có lợi trong ao. 

Việc bổ xung các dinh dưỡng từ bên ngoài rất quan trọng, dinh dưỡng bổ xung tham gia hỗ trợ sức khoẻ tôm nuôi, tăng sức đề kháng, chủ động ngăn ngừa dịch bệnh. Điển hình là chất hỗ trợ gan được sử dụng phổ biến như Sorbitol, Inositol, Choline và Methionine, Beta glucan; vi sinh đường ruột có lợi như Bacillus subtilis, Lactobacillus acidophilus, Saccharomyces cerevisiae; các chất phụ gia như acid hữu cơ; các chất hỗ trơ tiêu hoá như Prebiotic, Probiotic điển hình như Mannan Oligosaccharide (MOS), Galacto-oligosaccharide (GOS), Fructo-oligosaccharide (FOS), Lipopolysaccharides; các loại enzyme hỗ trơ tiêu hoá như Amylase, Protease, Cellulose, Phytase, Xylanase, Mannaase, pectinase, B-Glucanase, a-Galactosidase, Lipase; các acid amine thiết yếu như Methionine, Lysine, Leusine, Arginine, Threonine; các vitamin tổng hợp dạng Premix…cải thiện hoạt động gan tuỵ, hệ đường ruột tôm nuôi. 

Dùng Selenium, CaCO3, CaMg(CO3)2, Ca, Mg nguyên liệu, bổ xung khoáng. Tốt nhất bà con nên dùng các khoáng hữu cơ Protein Chelates = ligandum + ion kim loại  Hấp thu > 80% (Ca, P, Fe, Zn, Mg tạo phức protein chelates với amin hữu cơ DL-methionine, L-lysine, Arginine, Tryptophan và Valine). Một số khoáng hữu cơ điển hình như Metal (Specific Amino Acid) complex; Metal Amino Acid complex; Metal Amino Acid Chelate…

Đăng ngày 05/07/2023
Lý Vĩnh Phước @ly-vinh-phuoc
Nuôi trồng

FLOCponics: Sự tích hợp hoàn hảo của công nghệ biofloc và cây thủy canh

FLOCponics là một loại Aquaponics thay thế tích hợp công nghệ biofloc (BFT) với sản xuất cây trồng không sử dụng đất.

flocponics
• 15:51 07/03/2022

Mô hình nuôi ba ba lãi 300 triệu đồng/năm

Mô hình nuôi ba ba của ông Lương Thành Kỷ, ở thị trấn Búng Tàu, huyện Phụng Hiệp. Qua 14 năm phát triển, đến nay đàn ba ba sinh sản của ông Kỷ đã phát triển hơn 1.500 con, mỗi năm xuất bán ra thị trường từ 8.000-10.000 con giống, trừ hết các khoản chi phí, lợi nhuận gần 300 triệu đồng/năm.

Ba ba.
• 09:38 14/06/2021

Kinh tế ổn định nhờ nuôi ba ba sinh sản

Hơn 20 năm nuôi ba ba sinh sản, anh Nguyễn Đức Lợi, ấp Phước Thọ B, xã Mỹ Phước, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng có cuộc sống khấm khá. Gắn bó lâu năm với con ba ba một phần cũng vì sự yêu thích loài vật này, ba ba lại dễ nuôi, nhẹ công chăm sóc, thị trường tiêu thụ tốt, đem lại nguồn thu nhập ổn định cho gia đình anh.

• 15:40 03/03/2021

Thu trăm triệu đồng mỗi năm từ nuôi ba ba

Nuôi ba ba gai là một công việc đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn và kỹ thuật cao. Nhưng bằng ý chí, nghị lực, sự đam mê tận tụy với công việc cùng với áp dụng các kiến thức khoa học kỹ thuật mà ông Phạm Tất Đạt ở xã Yên Bình, thành phố Tam Điệp đã thành công, vươn lên trở thành triệu phú.

kỹ thuật sản xuất giống baba
• 10:00 30/05/2017

10 chuyển dịch quan trọng nhất trong ngành Dinh dưỡng thủy sản

Sự chuyển dịch thần tốc của ngành thủy dản không chỉ là câu chuyện về giá thành, mà là cuộc cách mạng về công nghệ và tính bền vững. Ngành dinh dưỡng, thức ăn thủy sản cũng đang chứng kiến những bước chuyển mình mạnh mẽ chưa từng có.

• 09:00 25/02/2026

Tại sao ao nuôi nên dùng đèn UV thay vì thuốc tím hoặc Chlorine?

Xử lý nước là bước bắt buộc trong nuôi tôm. Từ trước đến nay, Chlorine và thuốc tím (KMnO₄) là lựa chọn phổ biến vì giá rẻ và tác dụng nhanh. Tuy nhiên, khi mật độ nuôi ngày càng cao và yêu cầu an toàn sinh học khắt khe hơn, việc phụ thuộc vào hóa chất đang bộc lộ nhiều rủi ro.

ao nuôi
• 15:00 24/02/2026

Sai lầm thường gặp khi phơi đáy ao

Trong nuôi trồng thủy sản, công đoạn phơi đáy ao sau mỗi vụ nuôi được xem là bước làm mới môi trường, giúp loại bỏ mầm bệnh và tạo nền tảng cho vụ nuôi tiếp theo. Tuy nhiên, nhiều hộ nuôi vẫn mắc phải những sai lầm cơ bản, khiến hiệu quả xử lý giảm sút, thậm chí gây thiệt hại lớn.

đáy ao nuôi
• 12:00 23/02/2026

Nuôi tôm Việt Nam giữa vòng xoáy ô nhiễm – kháng sinh

Ngành tôm Việt Nam đang đứng trước ngã ba đường: tiếp tục mở rộng diện tích nuôi để đánh đổi rừng ngập mặn và lạm dụng kháng sinh, hay chuyển mình sang mô hình thâm canh công nghệ cao bền vững? Câu trả lời sẽ quyết định vị thế của con tôm Việt trên bản đồ thế giới.

ao tôm
• 19:00 22/02/2026

Tại sao ao nuôi nên dùng đèn UV thay vì thuốc tím hoặc Chlorine?

Xử lý nước là bước bắt buộc trong nuôi tôm. Từ trước đến nay, Chlorine và thuốc tím (KMnO₄) là lựa chọn phổ biến vì giá rẻ và tác dụng nhanh. Tuy nhiên, khi mật độ nuôi ngày càng cao và yêu cầu an toàn sinh học khắt khe hơn, việc phụ thuộc vào hóa chất đang bộc lộ nhiều rủi ro.

ao nuôi
• 05:42 01/03/2026

Chính thức mở cổng đăng ký trước Vietshrimp Asia 2026 & Aquaculture Vietnam 2026 kết nối toàn bộ ngành thủy sản

Trong bối cảnh ngành thủy sản Việt Nam đang đứng trước những cơ hội mới về thị trường, công nghệ và phát triển bền vững, nhu cầu tìm kiếm giải pháp toàn diện, từ con giống, dinh dưỡng, công nghệ nuôi, chế biến đến xuất khẩu,trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Nhằm tạo ra một nền tảng kết nối chiến lược cho cộng đồng doanh nghiệp, chuyên gia và người nuôi, VietShrimp Asia 2026 lần đầu tiên tổ chức cùng Aquaculture Vietnam 2026 tạo nên kỳ triển lãm với quy mô mở rộng, toàn diện, quốc tế hơn bao giờ hết.

Vietshrimp
• 05:42 01/03/2026

Ngành nuôi tôm Việt Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Trong nhiều năm, nuôi tôm được xem là một trong những ngành nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh và đóng góp lớn cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Tuy nhiên, bối cảnh khí hậu hiện nay đang đặt ngành này trước một thực tế khác: rủi ro không còn mang tính mùa vụ, mà đang chuyển thành rủi ro cấu trúc.

tôm
• 05:42 01/03/2026

Sai lầm thường gặp khi phơi đáy ao

Trong nuôi trồng thủy sản, công đoạn phơi đáy ao sau mỗi vụ nuôi được xem là bước làm mới môi trường, giúp loại bỏ mầm bệnh và tạo nền tảng cho vụ nuôi tiếp theo. Tuy nhiên, nhiều hộ nuôi vẫn mắc phải những sai lầm cơ bản, khiến hiệu quả xử lý giảm sút, thậm chí gây thiệt hại lớn.

đáy ao nuôi
• 05:42 01/03/2026

Vôi nông nghiệp và vôi công nghiệp: Khác nhau ở đâu và vì sao không nên dùng lẫn?

Vôi là vật tư quen thuộc trong nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, nhưng việc nhầm lẫn giữa vôi nông nghiệp và vôi công nghiệp vẫn diễn ra phổ biến. Sử dụng sai loại không chỉ làm giảm hiệu quả cải tạo môi trường mà còn tiềm ẩn rủi ro cho cây trồng, vật nuôi.

vôi nuôi tôm
• 05:42 01/03/2026
Some text some message..