Những nghiên cứu về công dụng của Tảo Spirulina

- Mustafas và ctv. (1994) báo cáo: Spirulina platensis được thêm vào làm thức ăn bổ sung cho Pagrus major với tỷ lệ 5% đã làm tăng tốc độ tăng trưởng của cá, hiệu quả chuyển đổi thức ăn và hiệu suất sử dụng Protein mà thành phần Protein có trong thịt cá không bị ảnh hưởng xấu. Tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá Silver sea beam khác nhau không có ý nghĩa giữa nghiệm thức có bổ sung 50% Spirulina platensis trong khẩu phần ăn với nghiệm thức đối chứng 100% cá bột ( El-(1994)).

tảo spirulia

- Chow và ctv.(1991) nghiên cứu về tốc độ tăng trưởng, tính ăn ngon miệng, hoạt động của enzyme tiêu hóa Protein và men tiêu hóa tinh bột nêu lên : không có sự khac nhau có ý nghĩa giữa các nhóm cá cho ăn thức ăn đối chứng và thức ăn bổ sung Spirulina platensis. Spirulina platensis cũng được đề nghị thay thế một phần bột cá trong chế độ ăn của cá Rô Phi O.mossambicus.

- Spirulina platensis ảnh hưởng đến tích lũy mỡ của cá và chỉ nên bổ sung Spirulina platensis ở mức 5% để duy trì sự sinh trưởng bình thường của cá (Watanabe và ctv.,1990).

- Nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các nguồn Protein khác nhau lên khẩu phần ăn của tôm thẻ, Ali ( 1992) phát hiện : Spirulina platensis và đậu phộng cho sức tăng trưởng của tôm tốt hơn có ý nghĩa so với bánh dầu dừa và gingerly cakes; hiệu quả sử dụng Protein thô và giá trị sinh học của Spirulina platensis cao hơn có ý nghĩa so với đậu phộng.

- Khi ương ấu trùng tôm He bằng tảo Spirulina apletensis và S.platensis cộng với bột đậu nành từ giai đoạn Zoae 1 đến Mysis 2, tôm đạt kích cở 663 – 757um, dài hơn có ý nghĩa so với thức ăn đối chứng chỉ dùng bột đậu nành (Gu và ctv.,1989).

- Nghiên cứu của Benjamas Chuntapa (2003), tảo lam Spirulina platensis được nuôi trong bể tôm sú (Peneus monodon) để kiểm soát chất lượng nước nuôi tôm. Nội dung của nghiên cứu là đánh giá ảnh hưởng của: (1) Ba điều kiện nuôi tảo (không có tảo, có nuôi tảo nhưng không thu hoạch và thu hoạch bán liên tục) lên hàm lượng nitơ vô cơ ở cùng một mật độ tôm nuôi. (2) Hai mật độ nuôi tôm lên hàm lượng nitơ vô cơ trong điều kiện có tảo và không có tảo. Kết quả ở nghiệm thức thu hoạch bán liên tục ở cùng một mật độ tôm nuôi thì hàm lượng nitơ vô cơ (NH4+, NO3-, NO2-) giảm có ý nghĩa (P<0,05). Ở nghiệm thức không có tảo hàm lượng NH4+, và NO3-, dao động từ 0,5 - 0,6 mg/L trong khi hàm lượng NO2- biến động từ 16 - 18 mg/L ở ngày thứ 44. Với nghiệm thức không thu hoạch tảo thì hàm lượng nitơ biến động đáng kể. Ở nghiệm thức thu hoạch tảo bán liên tục hàm lượng nitrate giảm xuống còn 4 mg/L, ammonium là 0,0mg/L còn nitrite là 0,15 mg/L. Ở nghiệm thức có nuôi tảo dù mật độ tôm nuôi cao hay thấp thì các hợp chất có chứa nitơ vẫn giảm đáng kể trong các bể nuôi và không có mối tương quan rõ rệt với mật độ tôm nuôi. Đối với nghiệm thức không có tảo, hàm lượng các hợp chất có nitơ tăng cao và tỉ lệ sống của tôm giảm có ý nghĩa ở nghiệm thức có mật độ nuôi tôm cao.

- Đề tài do tác giả Hoàng Sỹ Nam, Đặng Diễm Hồng (Viện Công nghệ sinh học) thực hiện đánh giá khả năng sinh trưởng và chất lượng của các chủng tảo trong 3 môi trường nước khoáng thuộc 3 địa điểm. Đồng thời đánh giá các chỉ tiêu hóa lí của môi trường trước và sau khi nuôi tảo làm cơ sở cho việc thiết lập qui trình nuôi đại trà làm giảm chi phí đầu tư, kéo dài thời gian và thu sinh khối tảo tối đa giữa các đợt nuôi. Vật liệu để tiến hành thí nghiệm bao gồm: Nguồn nước khoáng được lấy từ các nguồn nước khoáng thuộc 3 tỉnh Thạch Thành - Thanh Hóa, Thanh Tân- Thừa Thiên Huế, Thanh Liêm – Hà Nam được kí hiệu tương ứng là TH, HU,HN. Các hóa chất có độ tinh sạch cao được dùng để pha môi trường Zarrouch. Phân hóa học N:P:K của nhà máy sản xuất phân bón Lâm Thao.

Các hóa chất chuyên dùng như: axeton, clô-rô-phooc, metanôn… Ngoài ra, còn dùng một số loài thuốc thử để phân tích hàm lượng các chất có trong môi trường nuôi tảo. Kết quả thí nghiệm cho thấy, trong 3 loại nước khoáng TH, HU, HN được sử dụng để nuôi trồng tảo S.platensis, nước khoáng TH có thành phần dinh dưỡng tốt nhất để nuôi trồng tảo. Hai loại nuớc khoáng này có thành phần thông số lý hóa tương tự nhau. Cả ba loại nước khoáng TH, HU và HN đều có thể sử dụng để nuôi trồng tảo S.platensis, trong đó nước khoáng nước khoáng TH cho tốc độ sinh trưởng của tảo cao nhất. Như vậy, có thể sử dụng nước khoáng TH, để nuôi trồng cả hai chủng tảo S.platensis CNT và C1 với công thức môi trường MT2. Với môi trường này chi phí cho nuôi tảo có thể giảm được ½ mà chất lượng tảo vẫn đảm bảo so với nuôi bằng môi trường Zarrouch chuẩn. Trong 2 chủng CNT và C1, chủng CNT có tốc độ sinh trưởng cao gấp 5 lần so với chủng C1. Thành phần hóa của hai chủng tảo CNT và C1 khi được nuôi trồng trong các môi trường khác nhau có khác nhau song vẫn đảm bảo được chất lượng để làm thực phẩm cho con người và động vật nuôi.

- Theo Nguyễn Huỳnh Quang Thái, 2008, bổ sung tảo Spirulina platensis a vào thức ăn làm tăng tỷ lệ sống của cá Chép Nhật từ 46,8% (NTĐC) lên 62,2% (NT1), 83,3% (NT2) và 80% (NT3). Tuy nhiên, tảo Spirulina platensis bổ sung vào thứ ăn không ảnh hưởng đến sự phát triển về trọng lượng của cá Chép Nhật, trong khi 6 - 9%g/kg sẽ giúp cho cá nhanh nhẹn và khỏe mạnh hơn so với thức ăn có hàm lượng tảo Spirulina platensis thấp hoặc không có tảo trong thức ăn.

- Ngoài ra, do tảo Spirulina platensis có nhiều giá trị dinh dưỡng và giá trị sinh hộ cao tên tảo được coi là một loại thực phẩm chức năng như nguồn thức ăn bổ dưỡng cho con người, cho vật nuôi, nguồn hoá chất và vật liệu phân bón vi sinh... Hiện tảo được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu và phát triển."

kithuatnuoitrong.com
Đăng ngày 25/11/2012
Kỹ thuật

Tổng quan về công nghệ MBBR trong nuôi trồng thủy sản

MBBR là Moving Bed Biofilm Reactor, hứa hẹn là công nghệ xử lý nước thải ưu việt trong nuôi trồng thủy sản.

công nghệ MBBR
• 18:17 25/09/2021

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP không chỉ loại bỏ hiệu quả nồng độ Ammonium mà còn xử lý đến 90% chất hữu cơ.

Chế biến cá tra
• 07:00 22/04/2020

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản bằng cảm biến nano

Sử dụng được cả trên bờ, dưới nước để quan trắc chất lượng nước, hệ thống cảm biến nano do Viện Công nghệ nano (INT) thuộc Đại học Quốc gia TPHCM nghiên cứu giúp người nuôi trồng thủy sản yên tâm khi chất lượng nước nuôi được cảnh báo tự động kịp thời khi có sự cố.

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản
• 14:35 05/02/2020

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng.Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ
• 08:46 30/10/2019

Áp dụng tiến bộ kỹ thuật để nuôi tôm nước lợ đạt hiệu quả cao, bền vững

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh trên thủy sản ngày càng diễn biến phức tạp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nuôi tôm nước lợ được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng suất, giảm rủi ro và hướng đến phát triển bền vững.

Nuôi tôm thẻ
• 12:04 20/01/2026

Nhớt bạt ao nuôi tôm, nguyên nhân và cách xử lý

Nhớt bạt ao nuôi tôm là hiện tượng xuất hiện một lớp nhớt mỏng, trơn, màu trắng đục hoặc vàng nâu bám trên bề mặt bạt ao nuôi (đáy và thành ao). Đây là hiện tượng phổ biến trong ao nuôi tôm lót bạt HDPE và thường xảy ra sau một thời gian nuôi hoặc sau khi ao có nhiều chất hữu cơ tích tụ.

Ao tôm
• 14:04 12/01/2026

Tại sao cá lóc hay ăn thịt lẫn nhau? Kỹ thuật lọc cỡ để không bị hao hụt số lượng

Tập tính ăn thịt đồng loại ở cá lóc là nguyên nhân hàng đầu gây hao hụt đầu con trong nuôi thâm canh. Hiểu rõ bản năng săn mồi và áp dụng kỹ thuật lọc cỡ đúng thời điểm là chìa khóa giúp người nuôi bảo vệ lợi nhuận trong bối cảnh giá thức ăn tăng cao.

Cá lóc
• 08:57 08/01/2026

Kiểm chứng các kinh nghiệm truyền miệng trong ngành nuôi tôm

Nuôi tôm là lĩnh vực có mức độ rủi ro cao, nơi mỗi biến động nhỏ của môi trường đều có thể dẫn đến thiệt hại vô cùng nghiêm trọng.

Nuôi tôm thẻ
• 11:38 02/01/2026

Ngành thủy sản Gia Lai duy trì ổn định sản xuất, tăng cường giải pháp chống khai thác IUU

Trong tháng 01, hoạt động khai thác thủy sản tỉnh Gia Lai chịu tác động lớn của gió mùa Đông Bắc, thường xuyên xuất hiện gió mạnh và biển động, gây không ít khó khăn cho ngư dân.

Tàu cá
• 06:06 02/02/2026

Hơn nửa thập kỷ giữ lửa tại làng Vũ Đại với món cá kho trứ danh

Cá kho làng Vũ Đại không chỉ là món ăn truyền thống mà còn là biểu tượng văn hóa ẩm thực đặc sắc của vùng đất Hà Nam. Với quy trình chế biến kỳ công kéo dài hàng chục tiếng đồng hồ, món ăn này đã khẳng định vị thế đặc sản cao cấp trong các dịp lễ Tết.

Cá kho
• 06:06 02/02/2026

Nuôi tôm ao đất truyền thống hay ao nổi lót bạt mật độ cao

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp và dịch bệnh trên tôm ngày càng khó lường, người nuôi tôm Việt Nam đang đứng trước ngã rẽ quan trọng về việc lựa chọn mô hình canh tác.

Tôm thẻ
• 06:06 02/02/2026

Giải pháp giảm ô nhiễm từ ao nuôi cá tra thâm canh

Nuôi cá tra thâm canh đang mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều hộ dân. Tuy nhiên, đi kèm với hiệu quả kinh tế là nguy cơ ô nhiễm môi trường nước ao nuôi, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cá và môi trường xung quanh.

Cho cá ăn
• 06:06 02/02/2026

Ba việc người nuôi cần làm để cứu đàn cá rô phi khỏi bệnh TiLV

Virus TiLV là nỗi ám ảnh lớn nhất của nghề nuôi cá rô phi với tỷ lệ tử vong lên tới 90%. Do chưa có thuốc đặc trị, sự sống còn của đàn cá phụ thuộc hoàn toàn vào chiến lược phòng thủ chủ động. Dưới đây là ba hành động cấp bách và những nguyên tắc bất di bất dịch để bảo vệ đàn cá trước loại virus nguy hiểm này.

Cá rô phi
• 06:06 02/02/2026
Some text some message..