Ngao giá

:
: Tapes dorsatus
: ngao hai cồi, sò lùa bắp, sò mía
Phân loại
Tapes dorsatus(Lamarck, 1818)
Ngao giá
Đặc điểm

Ngao giá có nhiều tên gọi khác nhau như: Sò lụa trắng, Sò lụa bắp, Ngao 2 cồi, Ngao 2 cùi, Sò lụa 2 vòi, Sò lụa 2 cồi...


Ngao giá bên trái và lưỡi đỏ là con nhỏ bên phải.

Ngao giá có vỏ dạng hình bầu dục, hai vỏ phải trái bằng nhau. Vỏ cá thể trưởng thành dài 70mm, cao 46mm, rộng 26mm. Mép bụng cong đều, phần sau mép bụng dạng góc mái nhà. Từ đỉnh vỏ đến mép trước bằng 1/4 chiều dài vỏ, mặt nguyệt không rõ ràng, mặt thuẫn hẹp dài. Da vỏ màu vàng nhạt và nhám, trên đó có vân dạng răng cưa hoặc có những phiến vân hình tam giác trông như các chấm (các đốm) to.


Các vòng sinh trưởng nét mịn. Mặt trong vỏ màu trắng vàng, láng. Mặt khớp của mỗi vỏ có 3 răng giữa: Răng chính giữa, răng giữa sau vỏ phải và răng chính giữa vỏ trái chẻ đôi. Vịnh màn áo sâu hình lưỡi. 

Phân bố

Vùng biển Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương: từ Đông và Đông Nam châu Phi đến Melanesia; phía bắc đến phía nam Nhật Bản; phía nam bang Queensland và New Caledonia.

Tại Việt Nam, ngao giá có mặt hầu hết ở các vùng biển từ Bắc đến Nam, từ tuyến hạ triều đến biển nông, đáy cát.

Tập tính

Thức ăn chủ yếu của chúng là tảo khuê, các mảnh vụn và chất vẩn cặn hữu cơ.

Sinh sản

Hầu hết các thành viên của lớp 2 mảnh vỏ là gonochoric (tức là có 2 giới tính riêng biệt), một số là loài lưỡng tính protandric (có cơ quan sinh sản nam khi còn nhỏ và có cơ quan sinh sản nữ sau này khi trưởng thành). Ngao giá là loài phân đực, cái riêng biệt. 

Hiện trạng

Đây là giống ngao sinh trưởng nhanh, trọng lượng lớn, có khả năng kháng bệnh tốt nên rất dễ nuôi, có thể thả nuôi với mật độ dày từ 130 - 150 con/lồng. Thời gian nuôi từ 12 - 13 tháng là cho thu hoạch, bình quân đạt 70 - 80 gam/con, nhiều lồng nuôi có những con đạt hơn 100 gam. 

Tài liệu tham khảo

1. CrystalBall Seafood

2. http://www.marinespecies.org/aphia.php?p=taxdetails&id=826414

Cập nhật ngày 12/04/2018
bởi
Xem thêm