Chất dẫn dụ trong thức ăn thủy sản

Bài viết cung cấp lợi ích của chất dẫn dụ trong thức ăn thủy sản và những loại được dùng phổ biến trên thị trường.
Chất dẫn dụ trong thức ăn thủy sản
Động vật thủy sản có vị giác và khứu giác nhạy cảm. Hình minh họa

Lợi ích của chất dẫn dụ với thức ăn động vật thủy sản

Thức ăn tự nhiên của tôm cá có những chất dẫn dụ, những chất này hấp dẫn với tôm cá và làm cho chúng tìm đến và ăn nhiều. Thức ăn viên tổng hợp, đặc biệt thức ăn chứa nhiều nguyên liệu thực vật trên cạn sẽ không hấp dẫn đối với các loài động vật thủy sản. Do đó chất dẫn dụ được thêm vào để tăng sự hấp dẫn của thức ăn (Lê Thanh Hùng, 2010).

Chất dẫn dụ thuộc về một nhóm nhỏ của các chất hóa học như các acid amin tự do, nucledotides, nucleoside, betaine và một phần của các amonium base (Takeda và Takii,1991), các chất dẫn dụ có nguồn gốc động vật thường là bột krill, bột mực, bột gan mực,… được bổ sung từ 1 đến 6% (Yacoob và Suresh, 2003; Walker và ctv., 2005).

Việc bổ sung chất dẫn dụ vào thức ăn có tác dụng làm tăng vị ngon của thức ăn và làm tăng khả năng sử dụng thức ăn của tôm (Browdy và ctv., 2006) và giảm lượng thức ăn thừa của tôm thải ra  (Lee and Meyers, 1997; Sanchez và ctv., 2005).

Động vật thủy sản có vị giác và khứu giác nhạy cảm hơn động vật trên cạn. Do đó, trong thức ăn cho tôm cá chất dẫn dụ luôn là một phụ gia quan trọng. Hợp chất dẫn dụ hiệu quả nhất đối với thủy sản là các acid amin tự do hiện diện dồi dào trong dịch chiết từ tôm và mực. Bột gan mực, bột mực, dịch cá, dịch tôm và nhiều hợp chất hữu cơ khác là các chất dẫn dụ sử dụng trong thức ăn thủy sản. Trong công nghiệp sản xuất chitin từ đầu vỏ tôm, qui trình công nghệ sử dụng acid để khoáng hóa vỏ tôm tiếp theo sử dụng xút để khử protein.

1. Betaine (Trimethyl glycine)

Betaine là hợp chất nitơ phi proteincó nguồn gốc tự nhiên. Betaine có nhiều trong cá biển. Trong công nghiệp chế biến, betaine được sản xuất từ rỉ mật củ cải đường. Betaine vừa là chất cung cấp gốc methyl vừa là chất dẫn dụ động vật thủy sản.

betaine, chất dẫn dụ, chức năng của chất dẫn dụ, thức ăn thủy sản

Cấu tạo betaine (Nguồn Befit.com)

Bổ sung betaine vào thức ăn có hiệu quả trong tăng trọng của ấu niên tôm sú  (Penaflorida và Virtanen, 1996) và tôm thẻ (P.indicus) (Jasmine và ctv,1993). Felix và Sudharsan (2004) bổ sung glycine betaine vào thức ăn tôm càng xanh (M.rosenbergii) hàm lượng 5g/kg thức ăn giúp tôm ăn mạnh hơn, tăng trưởng nhanh hơn và giãm FCR.

Trên tôm sú, trong thí nghiệm tại Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, khi so sánh ảnh hưởng của các loại chất dẫn dụ betaine, dịch cá thủy phân, dầu cá và lecithin, kết quả cho thấy, sau 30 phút cho ăn lượng thức ăn tiêu thụ nhiều nhất ở lô bổ sung 2% betaine (tiêu thụ 80,8% thức ăn trong sàng ăn) (Lê Thanh Hùng, 2010).

2. Dịch cá/tôm thủy phân

Dịch cá thủy phân là sản phẩm của công nghiệp chế biến phụ phẩm cá, màu vàng nâu. Hàm lượng protein dao động 62-80%, tùy theo mùa vụ và giống loài sử dụng. Trong đó hợp chất nitơ phi protein chiếm tỉ lệ cao. Dịch cá thủy phân chứa các acid amin tự do và các peptide nên được sử dụng trong thức ăn thủy sản như chất dẫn dụ. Thí nghiệm bổ sung 2% dịch cá thủy phân vào thức ăn tôm, tôm ăn nhiều thức ăn trong sàng ăn (Lê Thanh Hùng, 2010)

Dịch tôm thủy phân là sản phẩm của quá trình chế biến phụ phẩm tôm, thường thì phụ phẩm gồm đầu và vỏ tôm. Hàm lượng chitin, protein, khoáng và carotenoid rất rộng. Protein chiếm 50-60%, khoáng 30-50%, chitin 13-42%. Ngoài ra trong dịch tôm thủy phân còn chứa các acid amine, betain có vai trò dẫn dụ trong thức ăn tôm ( Lê Thanh Hùng, 2010). Quá trình thủy phân phụ phẩm tôm có thể cho ra glucosamine (Ferrer và ctv, 1996).

3. Bột ruốc

bột ruốc, chất dẫn dụ, chức năng của chất dẫn dụ, thức ăn thủy sản

Việc bổ sung bột krill vào thức ăn TCT có tác dụng làm tăng vị ngon của thức ăn (Derby và ctv, 2016). Những nghiên cứu về bột ruốc được tiến hành đầu tiên vào những năm 1970, chủ yếu là những nghiên cứu đánh giá về giá trị dinh dưỡng trong thức ăn (Olsen và ctv, 2006). Mặc dù có một số sự thống nhất về việc sử dụng bột ruốc trong thức ăn của cá nhưng những thông tin về nghiên cứu sử dụng bột ruốc trên tôm vẫn còn khan hiếm. Những nghiên cứu về sử dụng bột ruốc trên tôm chủ yếu về tăng trưởng hoặc để thúc đẩy lượng ăn (Córdova-Murueta và García-Carreno, 2002; Williams và ctv, 2005).

4. Bột gan mực

bột gan mực, chất dẫn dụ, chức năng của chất dẫn dụ, thức ăn thủy sản

Bột gan mực (nguồn: Internet)

Bột gan mực được chế biến từ phế phẩm của công nghệ chế biến mực. Trong chế biến mực đông lạnh, một tỉ lệ lớn nội tạng, đầu, vây bơi,da,… không dùng trong thực phẩm được chế biến thành bột gan mực. Chúng được thủy phân cho ra dung dịch bao gồm: peptide, acid amine, lipid,… phần được ly tâm cho ra dầu gan mực. Trong khi phần còn lại được cho thêm chất nền như: vỏ đậu nành rồi sấy khô cho ra bột gan mực. Bột gan mực chứa một tỉ lệ cao các acid amine tự do, nên dẫn dụ tôm cá rất cao.

Thành phần protein của bột nhuyễn thể khá cao, trung bình 70-80%. Bột gan mực có hàm lượng protein khoảng 50%, vì cấu tạo từ 2/3 vỏ đậu nành, chứa tỉ lệ cao glycine và betaine.

5. Bột cá

Thức ăn thủy sản tôm và cá biển sử dụng một tỉ lệ rất cao bột cá (30-40%). Nhiều công trình nghiên cứu nhằm thay thế bột cá trên thức ăn tôm (Suárez và ctv, 2009) và thức ăn cá biển (Kaushik, 2004) bằng các nguồn protein thay thế khác như các loại protein thực vật (các loại khô dầu) hay các protein động vật (bột gia cầm. bột huyết, bột xương thịt...).

Tuy nhiên việc thay thế không hoàn toàn và vẫn phải sử dụng một tỉ lệ cao bột cá trong thức ăn tôm và cá biển. Một trong những lý do hạn sử dụng các protein thay thế là khả năng dẫn dụ kém của các protein này (Tacon, 2009). Do đó, dịch thủy phân nội tạng mực được sử dụng bổ sung vào thức ăn thủy sản để giúp giảm tỉ lệ sử dụng bột cá mà không ảnh hưởng đến tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn. Thông thường thức ăn tôm phải sử dụng 2-3% bột gan mực trong công thức sản xuất (Tacon, 2009). Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cửu sử dụng bột gan mực trong thức ăn thủy sản như trên cá chẽm (Lateolabrax japonicus) (Kangsen Mai và ctv, 2006), cá vền biển (Sparus aurata) (Kolkovski và Tandler, 2000), tôm sú (Penaeus monodon) (Smith và ctv, 2005), cá bơn Paralichthys olivaceus (Kim và ctv, 2009).

17/07/2017
TRỊ THỦY