Biện pháp hạn chế ảnh hưởng của nắng nóng đến vật nuôi thủy sản

Để chủ động phòng chống nắng, nóng, dịch bệnh cho các đối tượng thủy sản nuôi, ngày 22/4/2019 Chi cục thủy sản Hà Tĩnh đã ban hành công văn số 114/TS-NTTS về việc tăng cường các biện pháp kỹ thuật hạn chế ảnh hưởng của nắng nóng đến sản xuất nuôi trông thủy sản. Theo đó, Chi cục thủy sản khuyến cáo:

Biện pháp hạn chế ảnh hưởng của nắng nóng đến vật nuôi thủy sản
Người nuôi cần che lưới chống nóng cho tôm khi nhiệt độ tăng cao. Ảnh: Báo Thái Bình

1. Đối với ao đầm/lồng bè nuôi trồng thủy sản

- Che phủ một phần diện tích nuôi để làm chỗ trú ẩn, tránh nắng nóng cho cá (bèo tây, lưới đen,...) khi nắng nóng kéo dài. Đối với nuôi ao, chủ động nâng và duy trì mức nước ở mức cao tối thiểu 1,2-1,5 m trở lên.

- Sử dụng các thiết bị làm giàu ô xy như máy quạt nước, máy sục khí, máy phun, máy bơm… đặc biệt là vào ban đêm từ 22h đêm đến 4h sáng để tăng ô xy hòa tan và đảo nước nhằm tăng cường hàm lượng oxy hoà tan, đặc biệt là tầng đáy, tạo điều kiện cho vi sinh vật hiếu khí phát triển sẽ làm giảm thiểu lượng khí độc trong ao.

- Vệ sinh môi trường nuôi: Đối với nuôi ao, định kỳ 7 - 10 ngày dùng vôi bột hòa nước té khắp mặt ao với lượng 2 - 3kg/100m3 tùy theo pH nước để khử trùng nước ao, tiêu diệt mầm bệnh, định kỳ dùng chế phẩm sinh học để xử lý môi trường. Đối với ao nuôi cá nước ngọt tuyệt đối không đưa phân chuồng trực tiếp xuống ao, nếu sử dụng phân hữu cơ trong ao nuôi phải được ủ hoai, ủ với vôi lượng 2 - 3% vôi cho 100kg phân, ủ phân một tháng sau đó bón xuống ao để tránh mầm bệnh. Đối với lồng nuôi cá, hàng tuần phải vệ sinh trong và ngoài lồng để cho nước lưu thông. Nên sử dụng các loại chế phẩm sinh học làm sạch nước để cải thiện môi trường nuôi, nhưng phải tìm hiểu rõ nguồn gốc, tác dụng và cách sử dụng. Thay tối thiểu 30% lượng nước trong ao...

- Chủ động giảm mật độ nuôi phù hợp với điều kiện môi trường nuôi và khả năng quản lý chăm sóc.

- Quản lý tốt môi trường ao nuôi, định kỳ thay nước và sử dụng chế phẩm sinh học,  thường xuyên kiểm tra các thông số môi trường, đảm bảo các điều kiện môi trường nằm trong giới hạn thích hợp cho thủy sản nuôi như: nhiệt độ nước từ 26 - 28oC; Độ trong 30 - 40 cm; pH 6,5 - 8 (đối với ao nước ngọt), 7,5-8,5 (đối với ao mặn lợ); oxy hoà tan > 3 mg/lít; độ kiềm 80 - 120 mg/l,...

- Theo dõi tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống để có cơ sở đánh giá đúng số lượng tôm, cá trong ao/lồng để có chế độ cho ăn hợp lý: vào những ngày nắng nóng khi nhiệt độ thay đổi vượt giới hạn thích hợp (trên 32oC đối với tôm và trên 35oC đối với một số loài cá) cần chủ động giảm lượng thức ăn xuống còn 60 -70% so với bình thường. Tăng cường cho các đối tượng thủy sản nuôi ăn các loại thức ăn có chất lượng, bổ sung Vitamin C, khoáng chất, men tiêu hóa, tinh dầu tỏi... vào thức ăn để tăng sức đề kháng và phòng bệnh; Cho động vật thủy sản nuôi ăn vào thời điểm mát mẻ trong ngày;

- Hạn chế đánh bắt, san thưa, vận chuyển, thả giống vào thời điểm nắng nóng trong ngày.

- Khi thủy sản nuôi đạt cỡ thu hoạch cần chủ động thu tỉa để giảm mật độ nuôi hoặc thu toàn bộ vào thời điểm thích hợp. Đối với nuôi lồng/bè trong trường hợp bất lợi, cần có biện pháp di chuyển lồng đến nơi thích hợp.

- Khi nhiệt độ tăng cao cơ thể động vật thủy sản chưa kịp phản ứng thích nghi rất dễ bị stress và phát sinh bệnh. Nắng nóng trong thời gian dài làm các loại tảo phát triển mạnh làm giảm lượng ôxy và tăng lượng khí độc trong nước (NH3, H2S, CO2 …) do quá trình phân hủy các chất hữu cơ ở đáy diễn ra mạnh; đồng thời là điều kiện cho các loại vi khuẩn, vi rút gây bệnh cho động vật thủy sản phát triển. Vì vậy cần áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp. Thường xuyên kiểm tra ao, lồng/bè nuôi, phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường để có biện pháp xử lý kịp thời.

2. Đối với các vùng nuôi ngao

- Duy trì mật độ nuôi phù hợp. Đối với ngao chưa đạt cỡ thu hoạch cần kiểm tra mật độ để có kế hoạch chủ động san thưa, đảm bảo mật độ nuôi từ 80-120 con/m2 đối với cỡ giống nuôi từ 400 - 600 con/kg; dưới 250 con/m2 đối với cỡ giống nuôi từ 500 - 800 con/kg, 250 - 350 con/m2 đối với cỡ giống nuôi từ 800-2000 con/kg. Người nuôi không nên thả giống ngao vào thời điểm thời tiết không thuận lợi; không nuôi ngao ở những vùng nước nông có thời gian phơi bãi dài từ 6 - 8h trở lên. Đối với ngao đạt cỡ thu hoạch (50-70 con/kg) cần khẩn trương thu hoạch tránh thiệt hại xảy ra.

- San phẳng mặt bãi nuôi, khai thông các vùng nước đọng lại ở các bãi nuôi ngao để tránh hiện tượng đọng nước cục bộ, giảm thiểu ảnh hưởng của nhiệt độ cao trong ngày làm ngao yếu và chết. Thường xuyên vệ sinh bãi nuôi, gia cố vệ sinh lưới vây tạo sự thông thoáng cho nước thủy triều lên xuống và cung chung tay bảo vệ môi trường vùng nuôi như: thu gom ngao chết trên bãi và xử lý đúng quy định tránh lây nhiễm bệnh, ô nhiễm môi trường chung. Thường xuyên quan sát bãi nuôi, khi có hiện tượng bất thường hoặc ngao bị chết, người nuôi cần có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời và thông báo ngay cho các cơ quan chức năng. Không đem ngao sống còn lại khu vực nuôi có hiện tượng chết tiếp tục thả nuôi ở bãi khác nhằm tránh lây lan dịch bệnh giữa các vùng nuôi.

Chi cục Thủy sản Hà Tĩnh
Đăng ngày 29/04/2019
Sỹ Công
Kỹ thuật

Tổng quan về công nghệ MBBR trong nuôi trồng thủy sản

MBBR là Moving Bed Biofilm Reactor, hứa hẹn là công nghệ xử lý nước thải ưu việt trong nuôi trồng thủy sản.

công nghệ MBBR
• 18:17 25/09/2021

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP

Xử lý nước thải chế biến thủy sản bằng công nghệ SNAP không chỉ loại bỏ hiệu quả nồng độ Ammonium mà còn xử lý đến 90% chất hữu cơ.

Chế biến cá tra
• 07:00 22/04/2020

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản bằng cảm biến nano

Sử dụng được cả trên bờ, dưới nước để quan trắc chất lượng nước, hệ thống cảm biến nano do Viện Công nghệ nano (INT) thuộc Đại học Quốc gia TPHCM nghiên cứu giúp người nuôi trồng thủy sản yên tâm khi chất lượng nước nuôi được cảnh báo tự động kịp thời khi có sự cố.

Quan trắc nước nuôi trồng thủy sản
• 14:35 05/02/2020

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ

Quản lý môi trường ao nuôi tôm nước lợ là khâu quan trọng, đòi hỏi người nuôi có sự hiểu biết cần thiết về mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và biến động của chúng.Từ đó, có biện pháp điều chỉnh phù hợp, giảm nguy cơ thiệt hại, góp phần vào thành công của vụ nuôi.

Lưu ý về môi trường trong ao nuôi tôm nước lợ
• 08:46 30/10/2019

Bỏ túi bí quyết giảm hệ số FCR xuống dưới 1.2 mà không cần đổi loại thức ăn

Trong cơ cấu chi phí nuôi tôm và cá thâm canh, thức ăn thường chiếm 50–65% tổng chi phí sản xuất. Vì vậy, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) không chỉ là một chỉ số kỹ thuật mà còn là thước đo trực tiếp của hiệu quả kinh tế. Chênh lệch 0,1 FCR ở quy mô vài chục tấn có thể tạo ra khoảng cách lợi nhuận rất lớn.

tôm
• 10:00 14/02/2026

Chủ động phòng bệnh TiLV – bảo vệ đàn cá rô phi ngay từ đầu vụ

Tilapia Lake Virus (TiLV) đang được xem là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với ngành nuôi cá rô phi toàn cầu. Virus này có thể gây tỷ lệ chết lên tới 80–90%, lây lan nhanh và hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu.

cá rô phi
• 12:00 11/02/2026

Những nguyên tắc nền tảng trong nuôi tôm

Nuôi tôm không phải là việc dễ dàng – nhưng việc thực hiện đúng các bước căn bản có thể giúp ao nuôi của bạn đạt năng suất cao và sạch bệnh.

tôm
• 12:00 08/02/2026

Áp dụng tiến bộ kỹ thuật để nuôi tôm nước lợ đạt hiệu quả cao, bền vững

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh trên thủy sản ngày càng diễn biến phức tạp, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nuôi tôm nước lợ được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng suất, giảm rủi ro và hướng đến phát triển bền vững.

Nuôi tôm thẻ
• 12:04 20/01/2026

Vietshrimp Asia 2026 & Aquaculture Vietnam 2026 – Kết nối toàn diện chuỗi giá trị, thúc đẩy tương lai ngành thủy sản bền vững

Năm 2025 đánh dấu một cột mốc quan trọng của ngành thủy sản Việt Nam, với tổng sản lượng đạt gần 10 triệu tấn và kim ngạch xuất khẩu khoảng 11,3 tỷ USD – mức cao nhất từ trước đến nay, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng bền vững giai đoạn 2026. Các sản phẩm chủ lực như tôm và cá tra tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt xuất khẩu, trong khi nuôi biển và đa dạng hóa đối tượng nuôi từng bước mở rộng nguồn cung và gia tăng giá trị chuỗi sản xuất.

• 20:33 18/02/2026

1.852 container tôm Indonesia quay lại thị trường Mỹ sau bê bối nhiễm phóng xạ

Sau nhiều tháng gián đoạn vì sự cố nhiễm chất phóng xạ trong một số lô hàng, xuất khẩu tôm của Indonesia sang Mỹ đã chính thức nối lại, với 1.852 container được thông quan trong giai đoạn từ cuối tháng 10/2025 đến đầu tháng 2/2026.

tôm đông lạnh
• 20:33 18/02/2026

Chuẩn hóa phương pháp xác định thủy ngân hữu cơ trong thủy sản

Việc ban hành Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 14443:2025 về xác định hàm lượng thủy ngân hữu cơ trong thủy sản không chỉ là một bước điều chỉnh kỹ thuật, mà phản ánh yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm trong bối cảnh xuất khẩu thủy sản Việt Nam phụ thuộc lớn vào các thị trường khó tính.

cá
• 20:33 18/02/2026

Khác biệt giữa ao tôm lót bạt và ao nuôi tôm truyền thống: Nên chọn mô hình nào?

Trong bối cảnh dịch bệnh và ô nhiễm môi trường nuôi ngày càng gia tăng, mô hình ao tôm lót bạt đang dần thay thế ao đất truyền thống tại nhiều vùng nuôi trọng điểm. Tuy nhiên, việc lựa chọn không chỉ phụ thuộc vào xu hướng mà còn liên quan đến điều kiện kỹ thuật, vốn đầu tư và khả năng quản lý của người nuôi.

ao nuôi
• 20:33 18/02/2026

Những thực phẩm không nên ăn cùng hải sản để tránh rối loạn tiêu hóa

Hải sản giàu đạm, khoáng chất và vi lượng thiết yếu như kẽm, sắt, canxi… Tuy nhiên, không phải thực phẩm nào cũng phù hợp khi kết hợp cùng tôm, cua, cá, mực. Một số sự kết hợp tưởng như vô hại có thể gây khó tiêu, rối loạn tiêu hóa, thậm chí tăng nguy cơ ngộ độc nếu sử dụng không đúng cách.

hải sản
• 20:33 18/02/2026
Some text some message..