Loại bỏ chất thải trong hệ thống RAS

Trong hệ thống nuôi trồng thủy sản tuần hoàn (RAS), chất thải sinh ra có mối liên hệ mật thiết với lượng thức ăn sử dụng. Vì RAS là hệ thống gần như khép kín, tất cả các dạng vật chất này đều có nguồn gốc chuyển hóa từ thức ăn sử dụng, nên lượng chất thải sinh ra hoàn toàn có thể tính toán và xử lý được.

Loại bỏ chất thải trong hệ thống RAS
Hệ thống RAS trong nuôi trồng thủy sản hiện đại Ảnh: thekingsfish.com

Cấu trúc chung của RAS


RAS gồm một số bể nuôi đối tượng thủy sản, bể tách chất thải rắn (TSS), bể chứa với máy bơm và bể lọc sinh học. Ngoài ra, có thể thêm một hoặc một số bộ phận như bể khử nitrate (hay còn gọi là phản nitrate), dụng cụ khử trùng, bể periphyton hoặc bể rong bèo.

Tính toán sức tải thiết kế của RAS

Để tính toán được sức tải của hệ thống, người thiết kế cần phải thu thập được thông tin chi tiết về đối tượng nuôi, xác định được sản lượng mong muốn và đỉnh sinh khối trong hệ thống. Ngoài ra, cũng cần có thêm thông tin về loại thức ăn sử dụng và lượng thức ăn sử dụng tối đa của hệ thống trong ngày.

Thông tin về đối tượng nuôi thường được thu thập qua tài liệu tham khảo với mức chi tiết càng cao càng tốt. Các thông tin quan trọng nhất thuộc về đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng của đối tượng nuôi cùng giới hạn sinh thái của đối tượng. Đặc điểm dinh dưỡng giúp người nuôi chọn được loại thức ăn với các thành phần thức ăn phù hợp. Đặc điểm sinh trưởng của đối tượng nuôi giúp người thiết kế quyết định được kích thước giống thả, số lượng giống thả, kích thước thu hoạch, thời gian nuôi, khẩu phần thức ăn… Ngoài ra, các giới hạn về nhiệt độ, ôxy, CO2, pH, TSS, TAN, độ mặn… cũng là những thông số cần thiết cho việc duy trì chất lượng nước trong hệ thống nuôi.

Dựa trên sản lượng mong muốn thu hoạch từ hệ thống, có thể xác định được kế hoạch thả giống, số lần thả và thu hoạch trong năm, từ đó xác định được sinh khối cá tối đa trong hệ thống. Nhằm ổn định khối lượng thức ăn sử dụng hàng ngày cũng như lượng chất thải sinh ra, cá trong RAS thường được thả cùng lúc nhiều lần với số lần thu hoạch khác nhau trong các bể nuôi khác nhau. Do đó, sinh khối cá trong hệ thống là tổng hợp sinh khối của các lần thả nuôi.

Vì lượng thức ăn sử dụng liên quan mật thiết đến sinh khối cá nuôi, người thiết kế có thể tính toán được lượng thức ăn sử dụng khi sinh khối cá lớn nhất. Đó chính là lượng thức ăn tối đa mà hệ thống có thể tải được. Từ lượng thức ăn tối đa sử dụng trong ngày, lượng chất thải tối đa sinh ra trong hệ thống cũng có thể được ước lượng một cách khoa học. Các dạng chất thải quan trọng nhất cần quan tâm trong hệ thống gồm: TAN, CO2, TSS sinh ra và lượng ôxy hòa tan (DO) cung cấp hàng ngày cho hệ thống.

Có nhiều công thức khác nhau để xác định lượng thải các vật chất từ thức ăn sử dụng. Công thức càng chi tiết và phức tạp thường có độ chính xác càng cao. Một số công thức đơn giản có thể được sử dụng, chi tiết như sau:

Lượng TAN sinh ra = lượng thức ăn sử dụng x protein thức ăn x 0,092;

Lượng O2 cần cung cấp = lượng thức ăn sử dụng x 0,5;

Lượng CO2 sinh ra = 1,375 x lượng O2 cần cung cấp;

Lượng TSS sinh ra = 0,25 x lượng thức ăn sử dụng.

Từ lượng thức ăn sử dụng tối đa trong ngày, dựa vào các công thức trên, người thiết kế RAS có thể tính toán được các chất thải với lượng tối đa sinh ra trong hệ thống. Với thể tích nước nuôi đã biết trong hệ thống, hàm lượng các chất thải trên cũng có thể tính toán được để so sánh với các giới hạn thích nghi của đối tượng nuôi.

Lựa chọn phương tiện xử lý chất thải phù hợp

Nhiều phương tiện xử lý chất thải có thể ứng dụng trong RAS. Các phương tiện này được chia làm 2 loại: lọc chất thải rắn TSS và lọc sinh học. Các dạng lọc TSS thông dụng gồm lọc lắng, lọc lưới, lọc tạo bọt và lọc ôxy hóa. Các dạng lọc sinh học thông dụng gồm lọc nhỏ giọt, lọc giá thể chuyển động, lọc dòng đáy và lọc lắng kết hợp (lọc hạt).

Với chất thải dạng khí CO2 và nhu cầu ôxy của hệ thống, người nuôi có thể sử dụng các dụng cụ sục khí và khử (hút) khí.


Xử lý chất thải trong RAS


Sau khi tính toán được các hàm lượng chất thải và chọn lựa phương tiện xử lý từng loại chất thải phù hợp, người thiết kế phải thống kê lưu lượng nước tối ưu để xử lý hiệu quả chất thải trong hệ thống. Tính toán lưu tốc nước cần thiết để mỗi đơn vị phương tiện xử lý được lượng chất thải hình thành. Sau đó, người thiết kế sẽ điều chỉnh loại phương tiện, số lượng và kích cỡ phương tiện để đưa ra được lưu tốc nước xử lý chất thải hệ thống tối ưu.

Công thức chung tính toán lưu lượng nước: Q = P/(C1 - C2)

Trong đó: Q là lưu lượng dòng nước qua thiết bị (m3/ngày); P là sản lượng chất thải tối đa hình thành trong ngày (g/ngày); C1 là hàm lượng chất thải tối đa trong hệ thống (g/m3); C2 là hàm lượng chất thải sau xử lý (cũng là ngưỡng thích nghi của đối tượng).

TSVN
Đăng ngày 09/09/2018
ThS Phùng Thế Trung - Khoa NTTS ĐH Nha Trang

Xử lý tôm bị mềm vỏ sau mưa nhiều

Nuôi tôm là một nghề đầy tiềm năng và mang lại thu nhập ổn định cho nhiều nông dân ở các vùng ven biển Việt Nam. Tuy nhiên, nghề nuôi tôm cũng gặp phải không ít khó khăn, trong đó có tình trạng tôm bị mềm vỏ sau khi trời mưa. Vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng và giá trị thương phẩm của tôm mà còn gây thiệt hại kinh tế cho người nuôi. Hiểu rõ nguyên nhân và tìm ra các biện pháp khắc phục là điều cần thiết để đảm bảo hiệu quả nuôi tôm.

Tôm thẻ chân trắng
• 09:00 19/06/2024

Tiết kiệm và hiệu quả từ mô hình nuôi cá trong thùng nhựa tại nhà

Mô hình nuôi cá trong thùng nhựa tại nhà đang trở thành xu hướng phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới. Với những lợi ích về kinh tế và môi trường, phương pháp này mang lại một cách tiếp cận mới, hiệu quả và tiết kiệm cho những ai muốn tự cung tự cấp thực phẩm sạch ngay tại nhà.

Nuôi cá
• 11:17 18/06/2024

Mối liên quan của pH và NO2 trong ao nuôi tôm

Khí độc NO2 hình thành do sên vét, cải tạo ao ban đầu trước vụ nuôi thực hiện kém hiệu quả. Không loại được triệt để lượng bùn cũ trong ao, để bùn tồn số lượng nhiều. Nguồn nước giàu phù sa, chất lơ lửng, lợn cơn…không qua hệ thống ao lắng lọc, vào trực tiếp ao nuôi, là nguyên nhân hình thành khí độc NO2.

Tôm
• 14:19 12/06/2024

Diệt rong đá trong ao nuôi quảng canh

Ở ao nuôi tôm quảng canh, diện tích ao rất lớn với rất nhiều loài nuôi kết hợp cùng với tôm như cá, cua,... Việc quản lý và kiểm soát chất lượng môi trường nước ao nuôi cũng rất hạn chế, vì vậy một số loài rong thường sinh sản và phát triển gây ra khó khăn cho tôm được nuôi. Hôm nay chúng ta sẽ kể một số cách diệt rong, đặc biệt là rong đá, loài rong luôn xuất hiện trong ao nuôi tôm quảng canh trước nay.

Rong vuông tôm
• 09:54 11/06/2024

Phụ gia thức ăn ảnh hưởng đến hệ miễn dịch cá heo sọc

Colossoma macropomum – Wikipedia tiếng ViệtPhụ gia thức ăn dinh dưỡng làm giảm tác động bất lợi của stress vận chuyển trong hệ thống miễn dịch của cá heo sọc (Colossoma macropomum)

Cá heo sọc
• 19:00 19/06/2024

Tăng cường công tác gỡ “Thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu

Ngày 17/6, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang chủ trì Hội nghị trực tuyến của Ban chỉ đạo Quốc gia về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định (IUU). Hội nghị được kết nối trực tuyến với 28 địa phương ven biển trên cả nước.

Họp
• 19:00 19/06/2024

Tác động của NH3, NO2, CO2 đến môi trường ao tôm

Việc duy trì chất lượng môi trường ao tôm là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của vụ nuôi. Trong đó, NH3, NO2 và CO2 đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái ao, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và năng suất của tôm. Việc hiểu về chúng có thể giúp bà con nâng cao hiệu quả trong công tác kiểm soát, quản lý từ đó cải thiện được năng suất ao nuôi.

Ao nuôi
• 19:00 19/06/2024

Tìm hiểu đặc điểm sinh sản của cá tráp vây vàng

Cá tráp vây vàng được biết đến nhiều nhất tại tỉnh Thừa Thiên Huế của nước ta. Loại cá này có giá trị về mặt kinh tế cao. Do đó, việc tìm hiểu về đặc điểm sinh sản của cá tráp phục vụ việc nghiên cứu và đưa ra các biện pháp bảo vệ nhằm hướng đến kế hoạch nuôi trồng và khai thác bền vững.

Cá tráp vây vàng
• 19:00 19/06/2024

Xử lý tôm bị mềm vỏ sau mưa nhiều

Nuôi tôm là một nghề đầy tiềm năng và mang lại thu nhập ổn định cho nhiều nông dân ở các vùng ven biển Việt Nam. Tuy nhiên, nghề nuôi tôm cũng gặp phải không ít khó khăn, trong đó có tình trạng tôm bị mềm vỏ sau khi trời mưa. Vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng và giá trị thương phẩm của tôm mà còn gây thiệt hại kinh tế cho người nuôi. Hiểu rõ nguyên nhân và tìm ra các biện pháp khắc phục là điều cần thiết để đảm bảo hiệu quả nuôi tôm.

Tôm thẻ chân trắng
• 19:00 19/06/2024
Some text some message..