Thử nghiệm một số loại thức ăn viên dùng nuôi thương phẩm cá lăng Vàng (Mystus nemurus) trong lồng trên hồ chứa tại Yên Thành-Nghệ An

Tác giả:

Nguyễn Quang Huy và ctv, 2012

Ngày đăng: 28-04-2014
Đóng góp bởi: ltxuyen2010
Thử nghiệm một số loại thức ăn viên dùng nuôi thương phẩm cá lăng Vàng (<i>Mystus nemurus</i>) trong lồng trên hồ chứa tại Yên Thành-Nghệ An
Tải về | Báo vi phạm | Báo hỏng
Link: Vui lòng đăng nhập để thấy đường dẫn tải tài liệu.
pdf 1.71MB | 805 | 20 | ltxuyen2010
Bốn loại thức ăn viên có có năng lượng tương tự nhau (2,93-3,10 kcal/g) nhưng khác nhau về hàm lượng protein và lipid là D1 (35% Pr, 10% L), D2 (42% Pr, 10% L), D3 (42% Pr, 5% L) và D4 (35% Pr, 5% L) được sử dụng để thử nghiệm nuôi thương phẩm cá lăng vàng (Mystus nemurus) trong lồng trên hồ chứa ở huyện Yên Thành, Nghệ An. Cá thí nghiệm có cỡ ban đầu 47,0 ± 1,2 g/con được cho ăn ngày 2 lần đến no trong 85 ngày nuôi. Cá sử dụng thức ăn thức ăn D2 có hàm lượng protein và lipid cao nhất tăng trưởng nhanh nhất, hệ số chuyển đổi thức ăn thấp nhất (P < 0,05). Cá ăn thức ăn D4 có tốc độ tăng trưởng chậm nhất, hiệu quả sử dụng protein thấp nhất và hệ số chuyển đổi thức ăn cao nhất. Cá ăn thức ăn D3 có tốc độ tăng trưởng, hiệu quả sử dụng protein tương tự như cá ăn thức ăn D1 (p>0,05) nhưng có hệ số chuyển đổi thức ăn thấp hơn (P <0,05). Tỉ lệ sống của cá ăn các loại thức ăn thí nghiệm đều cao (93,3-94,0%) và không có sự khác biệt giữa các nghiệm thức thức ăn. Dựa vào kết quả trên, thức ăn D2 có hàm lượng protein 42% và lipid 10% là thức ăn phù hợp nhất cho nuôi thương phẩm loài cá này trong số 4 loại thức ăn nghiên cứu. 

"Tài liệu điện tử trên trang tepbac được chia sẻ để sử dụng cho mục đích học tập và nghiên cứu cá nhân. Nghiêm cấm mọi hình thức sao chép, in ấn phục vụ các mục đích khác nếu không được sự chấp nhận của tác giả và nhà xuất bản."

Có thể bạn quan tâm