Nan giải vấn đề tăng trưởng khi dùng protein đậu nành cho cá mú

Nhận thấy cá mú được nuôi bằng khẩu phần thay thế 50% bột đậu nành tăng trưởng chậm, giải pháp bổ sung axit hữu cơ được đề ra nhưng chỉ có ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe của cá mú, chỉ số tăng trưởng vẫn là vấn đề nan giải.

cá mú
Thay thế protein đậu nành để tiết kiệm chi phí nuôi, nhưng tăng trưởng cũng là vấn đề lớn cần giải quyết.

Bột cá luôn là nguồn cung cấp protein trong sản xuất thức ăn thủy sản. Hiện nay nguồn cung cấp bột cá ngày càng sụt giảm, do đó nhiều nghiên cứu thay thế nguồn protein bột cá như protein nguồn thực vật ngày càng được ưa chuộng. Tuy nhiên, việc thay thế bột đậu nành (SBM) ở mức (20–30%) đối với một số loài cá ăn động vật (cần khoảng 40% protein) sẻ ảnh hưởng đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của loài đó. Do đó, phụ gia như axit hữu cơ là một lựa chọn tối ưu được thêm vào để kích thích tăng trưởng và tăng cường sức khỏe của cá.

Axit hữu cơ là các hợp chất hữu cơ với một hoặc nhiều nhóm cacboxyl và chúng được tạo ra thông qua quá trình lên men carbohydrate của vi sinh vật bằng cách sử dụng các loài vi khuẩn khác nhau dưới các con đường và điều kiện trao đổi chất khác nhau. Axit butyric có thể cung cấp năng lượng cần thiết cho sự phát triển của biểu mô, hơn nữa axit butyric sẻ ảnh hưởng đến các chức năng tế bào liên quan đến sức khỏe đường ruột của cá.

Nghiên cứu này được thực hiện để xác định ảnh hưởng của việc bổ sung axit hữu cơ đối với việc thay thế 50% bột cá bằng bột đậu nành lên năng suất tăng trưởng, tình trạng gan và mô học ruột của cá mú Epinephelus lanceolatus trong vòng 8 tuần.

Cá giống được cho ăn ba chế độ ăn khác nhau, thay thế 50% protein bột cá bằng bột đậu nành (SBM50), bổ sung 1% axit butyric (SBM50 + 1%) và chế độ ăn bột cá (FM) như đối chứng. Tất cả các chế độ ăn đều được xây dựng theo công thức protein (48%) và lipid (12%). Cá thí nghiệm được nuôi trong hệ thống tuần hoàn và cho ăn hai lần mỗi ngày. Hiệu suất tăng trưởng, tình trạng gan và những thay đổi mô học được quan sát thấy trong thử nghiệm cho ăn.

Tăng trưởng cao nhất được thấy ở cá được cho ăn chế độ ăn bột cá, tiếp theo là SBM50 và SBM50 + 1% có mức tăng trưởng thấp nhất. Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn tốt hơn (FCR) và tỷ lệ hiệu quả protein (PER) cũng được quan sát thấy ở cá cho ăn chế độ ăn bột cá ( p <0,05 ), tiếp theo là cá cho ăn SBM50 và SBM50 + 1%. 

tế bào gan
Hình 1 . Soi sáng tế bào gan với phương pháp nhuộm H&E (a), các đoạn ruột giữa của cá mú trước khi được nuôi bằng chế độ ăn thực nghiệm (b). Độ phóng đại 200 ×.

Tế bào gan có nhuộm H&E
Hình 2 . Tế bào gan có nhuộm H&E của cá mú được nuôi bằng FM (a), SBM50 (b) và được nuôi bằng SBM50 + 1% (c), các đoạn ruột giữa của cá mú được nuôi bằng FM (d), được cho ăn bằng SBM50 (e) và cho ăn bằng SBM50 + 1% (f) sau 8 tuần. Độ phóng đại 200x.

Trong khi đó, hoạt tính superoxide dismutase trong gan của cá cho ăn chế độ ăn bột cá cao hơn, tiếp theo là SBM50 + 1% và SBM50 và các chất phản ứng axit thiobarbituric (TBARS) của cá cho ăn chế độ ăn bột cá thấp hơn đáng kể, tiếp theo là SBM50 + 1% và SBM50. 

Những thay đổi mô học của tế bào gan và nhung mao ruột có thể được nhìn thấy rõ ràng trong Hình 1 và Hình 2 . Cá cho ăn chế độ ăn chế độ ăn bột cá cho thấy đường kính tế bào gan lớn hơn so với cá ăn SBM50 và SBM50 + 1% sau 8 tuần cho ăn. Trong khi đó, chiều dài nhung mao ruột của nghiệm thức cho ăn FM ghi nhận chiều dài nhung mao dài hơn so với SBM50 và SBM50 + 1%.

Nghiên cứu này cho thấy rằng việc thay thế bột cá bằng 50% bột đậu nành làm giảm tốc độ tăng trưởng. Việc bổ sung 1% axit butyric vào khẩu phần bột đậu nành không giúp cải thiện sự phát triển của cá.

Cá cho ăn chế độ ăn dựa trên bằng bột đậu nành trong nghiên cứu này cho thấy FCR cao hơn nhưng PER và NPU thấp hơn khi so sánh với cá ăn chế độ ăn bột cá. FCR cao hơn trong chế độ ăn dựa trên bột đậu nành cho thấy rằng việc sử dụng thức ăn kém hiệu quả hơn so với cá cho ăn chế độ ăn bột cá.

Cá giảm tăng trưởng khi cho ăn bột đậu nành có thể do sự cân bằng axit amin dưới mức tối ưu, mức năng lượng không đủ, lượng thức ăn vào thấp do chán ăn hoặc do sự hiện diện của các chất kháng dinh dưỡng. Hàm lượng axit amin chứa lưu huỳnh thấp trong bột đậu nành so với bột cá cũng có thể là lý do tại sao cá ăn bột đậu nành giảm tăng trưởng. Tuy nhiên, bột đậu nành có chứa saponin và được cho rằng nó gây ra chứng viêm ở cá, có thể làm giảm khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng dẫn đến suy giảm tăng trưởng.

Đường kính tế bào gan giữa các nghiệm thức khác nhau khi cá được cho ăn chế độ ăn bột cá cho thấy tế bào gan lớn hơn đáng kể so với chế độ ăn dựa trên bột đậu nành. Bên cạnh đó, tổng lipid gan của cá ăn SBM50 và SBM50 + 1% cao hơn đáng kể so với cá ăn bột cá. Do đó, có thể cả hai chế độ ăn dựa trên bột đậu nành đều đang oxy hóa lipid thành năng lượng vì dự trữ glycogen khan hiếm, sau đó gây ra stress oxy hóa gan.

Trong khi đó, hoạt tính superoxide dismutase trong gan của cá cho ăn bột cá cao hơn, tiếp theo là SBM50 + 1% và SBM50 không có ý nghĩa và các chất phản ứng axit thiobarbituric (TBARS) của cá cho ăn bột cá thấp hơn đáng kể ( p < 0,05), tiếp theo là SBM50 + 1% và SBM50. 

Dựa trên các kết quả từ nghiên cứu hiện tại, có thể kết luận rằng cá mú được nuôi bằng khẩu phần thay thế 50% bột đậu nành ảnh hưởng xấu đến sự tăng trưởng, tình trạng gan và mô học ruột và việc bổ sung axit butyric cho thấy tác dụng giảm thiểu tổn thương đường ruột nơi nó cải thiện nếp gấp nhung mao và chiều cao nhung mao, tuy nhiên không giúp cải thiện tăng trưởng.

Lược dịch từ: Yong, A. S. K., Abang Zamhari, D. N. J. binti, Shapawi, R., Zhuo, L.-C., & Lin, Y.-H. (2020). Physiological changes of giant grouper (Epinephelus lanceolatus) fed with high plant protein with and without supplementation of organic acid. Aquaculture Reports, 18, 100499. doi:10.1016/j.aqrep.2020.100499.

Đăng ngày 24/03/2021
Như Huỳnh
Nguyên liệu

Bắt tàu cá Cà Mau vi phạm vùng biển nước ngoài

Thông tin từ Bộ tư lệnh Vùng Cảnh sát biển (CSB) 4, đến 14 giờ, ngày 3/8 đơn vị đã dẫn giải tàu cá CM - 99275-TS về đến cảng Hải đội 421, Hải đoàn 42 Cảnh sát biển tại thị trấn Năm Căn, huyện Năm Căn để tiến hành xử lý vi phạm theo quy định.

tàu cá bị bắt
• 10:29 04/08/2021

Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa: Bằng chứng sống về chủ quyền biển, đảo

Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa diễn ra tại huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đã trở thành nghi lễ đặc biệt quan trọng, mang đậm bản sắc văn hóa tâm linh đặc sắc của người dân đảo Lý Sơn nhằm tri ân những người lính trong đội hùng binh Hoàng Sa năm xưa. Dưới đây là những hình ảnh đẹp về Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa được ghi lại vào tháng 4/2021.

Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa.
• 12:10 20/05/2021

Những góc nhìn bình dị từ cuộc sống của người dân miền biển

Dẫu cuộc sống miền biển có bộn bề khó khăn nhưng hạnh phúc vẫn luôn được tìm thấy đâu đó trong những bộn bề ấy, hạnh phúc hiện diện từ những điều nhỏ bé, bình dị nhất. Sự bộn bề cơ cực ấy thể hiện rõ trên những chuyến đi dài, những chuyến đi với sự trở về của một khoang tàu đầy ắp cá. Hạnh phúc, vui mừng vì một chuyến đi bội thu không có những cơn giận dữ bất thường nào của biển cả.

Bình minh trên biển.
• 07:11 17/05/2021

Quy định mới về giao khu vực biển

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 11/2021/NĐ-CP quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển.

nuôi lồng bè trên biển
• 14:25 18/02/2021

Phụ phẩm tôm – Nguồn thu thứ hai từ đầu và vỏ tôm

Trong chế biến xuất khẩu, phụ phẩm tôm như đầu và vỏ tôm chiếm tới 40–50% trọng lượng và đang trở thành nguồn thu thứ hai đầy tiềm năng cho doanh nghiệp.

Vỏ tôm
• 11:44 17/01/2026

Kinh tế tuần hoàn trong nghề cá

Trong tư duy truyền thống, cá chỉ có giá trị ở phần thịt phi lê, còn lại bị xem là phế phẩm gây ô nhiễm. Tuy nhiên, mô hình kinh tế tuần hoàn đang đảo ngược hoàn toàn định kiến này.

Nghề cá
• 11:30 16/01/2026

Hành trình chuẩn hóa thủy sản vào siêu thị

Đưa sản phẩm thủy sản vào kênh bán lẻ hiện đại là xu hướng tất yếu để nâng cao giá trị kinh tế và khẳng định thương hiệu. Tuy nhiên, để trụ vững trên kệ hàng siêu thị, doanh nghiệp và người nuôi buộc phải giải quyết bài toán về sự đồng nhất chất lượng và năng lực cung ứng ổn định.

Tôm
• 16:42 15/01/2026

Kiểm soát Ethoxyquin trong thức ăn tôm để đáp ứng tiêu chuẩn nhập khẩu Nhật

Việc kiểm soát hoạt chất Ethoxyquin hiện là yêu cầu bắt buộc và khắt khe nhất đối với tôm Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản.

Tôm
• 12:00 08/01/2026

Những thông số bắt buộc phải biết trên nhãn mác thủy sản đóng gói

Trong chuỗi cung ứng thực phẩm hiện đại, nhãn mác trên bao bì thủy sản đã trở thành một hệ thống dữ liệu kỹ thuật phức tạp thay vì những dòng mô tả cơ bản.

Tôm thẻ
• 18:56 26/01/2026

Mẹo chọn hải sản tươi khi đi chợ: Nhìn đúng để mua không bị hớ

Việc lựa chọn hải sản tươi ngon là bước đầu tiên và quan trọng để có một bữa ăn hấp dẫn, giàu dinh dưỡng. Chỉ cần quan sát và kiểm tra vài chi tiết nhỏ, người mua hoàn toàn có thể phân biệt được đâu là hải sản tươi, đâu là hàng kém chất lượng. Dưới đây là những dấu hiệu cơ bản, dễ áp dụng khi chọn tôm, cua, và cá.

Tôm thẻ
• 18:56 26/01/2026

Nuôi ghép tôm và rong nho

Mô hình nuôi ghép tôm thẻ chân trắng và rong nho là phương thức canh tác kết hợp hai đối tượng nuôi trên cùng một diện tích mặt nước hoặc trong hệ thống tuần hoàn.

Tôm thẻ
• 18:56 26/01/2026

Kỹ thuật vận chuyển và thả tôm giống trong điều kiện rét đậm đầu năm 2026

Những đợt rét đậm đầu năm 2026 trực tiếp ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của tôm giống trong khâu vận chuyển và thả nuôi. Để đảm bảo sức khỏe đàn tôm, người nuôi cần tuân thủ nghiêm ngặt các thông số về nhiệt độ, mật độ đóng gói và quy trình thuần hóa môi trường trước khi bắt đầu vụ nuôi.

Tôm thẻ giống
• 18:56 26/01/2026

Thủy sản Việt Nam giữ vững top 3 nguồn cung lớn nhất tại Singapore

Năm 2025 khép lại với tin vui từ đảo quốc sư tử khi kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt mức tăng trưởng hai con số, vượt mốc 125 triệu SGD. Kết quả này giúp Việt Nam bảo vệ thành công vị trí top 3 nhà cung cấp lớn nhất, khẳng định vị thế vững chắc trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của các đối thủ sừng sỏ.

Tôm đông lạnh
• 18:56 26/01/2026
Some text some message..