Trọng tâm của chiến lược Seafood Engine là huy động các đổi mới công nghệ, chẳng hạn như những công nghệ được phát triển.Ảnh: URI/Brennan Phillips
Mỹ khởi động chương trình công nghệ thủy sản trị giá tới 160 triệu USD, AI là trọng tâm
Mỹ khởi động chương trình đổi mới công nghệ dành cho ngành thủy sản. Với khoản tài trợ ban đầu 15 triệu USD và quy mô lên tới 160 triệu USD trong 10 năm, chương trình sẽ thúc đẩy ứng dụng AI, robot, cảm biến và nhiều công nghệ tiên tiến nhằm hiện đại hóa chuỗi giá trị thủy sản, từ khai thác, nuôi trồng đến chế biến và phân phối.
Ngày 14/7, Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (National Science Foundation - NSF) công bố khoản tài trợ đầu tiên 15 triệu USD cho chương trình NSF Seafood Engine in New England. Đây là một trong 12 NSF Regional Innovation Engines được lựa chọn trên toàn nước Mỹ nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ và phát triển kinh tế khu vực. Nếu hoàn thành các mục tiêu theo từng giai đoạn, chương trình có thể nhận tổng cộng 160 triệu USD trong vòng 10 năm.
Bên trong chương trình Seafood Engine trị giá tới 160 triệu USD
Seafood Engine được xây dựng như một hệ sinh thái đổi mới, quy tụ hơn 50 đối tác gồm trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng và các tổ chức phát triển công nghệ tại khu vực New England. Mục tiêu của chương trình không chỉ dừng ở nghiên cứu mà còn hướng đến thương mại hóa công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành thủy sản Mỹ.
Mục tiêu của Seafood Engine là nghiên cứu và thương mại hóa công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực của ngành thủy sản Mỹ.
Khoản đầu tư tối đa 160 triệu USD không dành riêng cho AI mà được phân bổ cho nhiều lĩnh vực công nghệ khác nhau. Trong đó, AI được xác định là một trong những trụ cột cùng với robot, Internet vạn vật (IoT), công nghệ sinh học, sản xuất tiên tiến và chuyển đổi số chuỗi cung ứng.
Các dự án sẽ tập trung phát triển cảm biến thông minh cho tàu cá và trang trại nuôi, hệ thống AI phân tích dữ liệu sản xuất, robot hỗ trợ chế biến, công nghệ bảo quản sau thu hoạch, truy xuất nguồn gốc và các giải pháp tối ưu chuỗi cung ứng. Theo các đơn vị tham gia chương trình, New England hiện đóng góp khoảng 25% giá trị ngành thủy sản của Mỹ, vì vậy khu vực này được lựa chọn làm trung tâm thử nghiệm trước khi mở rộng sang các vùng sản xuất khác.
Thông qua chương trình, Mỹ kỳ vọng nâng cao năng suất, tăng giá trị gia tăng, giải quyết bài toán thiếu hụt lao động và giảm sự phụ thuộc vào nguồn thủy sản nhập khẩu.
Xu hướng chuyển dịch của ngành thủy sản
Trong nhiều năm qua, chuyển đổi số trong thủy sản chủ yếu tập trung vào việc thu thập dữ liệu từ cảm biến môi trường, máy cho ăn tự động và camera giám sát. Tuy nhiên, dữ liệu chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được phân tích và chuyển thành các quyết định sản xuất.
Đó là vai trò mà AI đang hướng tới.
Thay vì chỉ hiển thị các chỉ tiêu như nhiệt độ, pH hay oxy hòa tan, AI có thể phân tích đồng thời dữ liệu từ cảm biến, camera, thời tiết và lịch sử sản xuất để phát hiện bất thường, dự báo nguy cơ thiếu oxy, nhận diện dấu hiệu dịch bệnh, ước tính sinh khối, tối ưu lượng thức ăn và đề xuất thời điểm vận hành thiết bị. AI vì thế đang chuyển từ công cụ giám sát sang hệ thống hỗ trợ ra quyết định.
Dự án cho thấy cuộc cạnh tranh trong ngành thủy sản đang dịch chuyển sang khai thác dữ liệu và trí tuệ nhân tạo.
Không chỉ trong nuôi trồng, AI còn được ứng dụng trong chế biến và logistics. Robot có thể đảm nhiệm các công đoạn phân loại, xử lý nguyên liệu trong môi trường làm việc khắc nghiệt, trong khi các mô hình AI hỗ trợ doanh nghiệp dự báo nhu cầu thị trường, tối ưu kế hoạch sản xuất và nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng.
Song song đó, xu hướng Edge AI cũng đang thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu. Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào điện toán đám mây, các mô hình AI có thể chạy trực tiếp trên thiết bị đặt tại trang trại, giúp giảm độ trễ xử lý, tiết kiệm chi phí truyền dữ liệu và phù hợp với những vùng nuôi có hạ tầng Internet chưa ổn định.
Khoản đầu tư của Mỹ cho thấy cuộc cạnh tranh trong ngành thủy sản đang dịch chuyển từ cơ giới hóa sang khai thác dữ liệu và trí tuệ nhân tạo. Trong tương lai, lợi thế của doanh nghiệp sẽ không chỉ nằm ở quy mô vùng nuôi hay năng lực chế biến, mà còn ở khả năng thu thập, phân tích và ứng dụng dữ liệu để tối ưu chi phí, giảm rủi ro và nâng cao hiệu quả sản xuất.