Định hướng nghiên cứu, phát triển ngành rong biển

Bờ biển Ninh Thuận được đánh giá có nguồn lợi hải sản phong phú và đa dạng. Nhận thức đúng về rong biển là nguồn nguyên liệu quý, có giá trị kinh tế về y dược, thực phẩm, mỹ phẩm, nên tỉnh chú trọng dành một khoản ngân sách đầu tư cho việc nghiên cứu đa dạng thành phần loài, khả năng khai thác, nuôi trồng và chế biến.

Định hướng nghiên cứu, phát triển ngành rong biển
Người dân vùng biển thôn Sơn Hải, xã Phước Dinh (Thuận Nam) hành nghề vớt rong biển. Ảnh: V.M

Từ việc tập trung chỉ đạo công tác hợp tác nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh, năm 1993, Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Nha Trang (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) bắt đầu đưa rong sụn trồng thử nghiệm trong các ao tôm ở thôn Tân An, xã Tri Hải (Ninh Hải). Sau đó, những nghiên cứu kỹ thuật trồng như: Dây đơn căng trên đáy trồng; giàn căng trên đáy vùng nước cạn; giàn phao nổi vùng nước cạn, vùng nước sâu được áp dụng rộng rãi ở vùng biển xã Thanh Hải (Ninh Hải), Phước Dinh, Phước Diêm, Cà Ná (Thuận Nam) đưa lại nguồn thu đáng kể cho người dân địa phương, nhất là tạo sinh kế giúp các hộ khó khăn vươn lên thoát nghèo. Kết quả từ hợp tác nghiên cứu cho thấy tỉnh ta có 2 vụ trồng rong sụn phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ nước biển, hướng gió chính và khu vực sản xuất. Vào mùa mát từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ nước biển thấp hơn 30oC và được an toàn dưới hoạt động sóng mạnh của hướng gió Đông - Bắc là mùa sản xuất chính. Vào mùa nắng gió từ tháng 4 đến tháng 9, hoạt động sóng mạnh của hướng gió Tây - Nam, việc trồng rong sụn chỉ thực hiện được ở vùng biển thuộc địa bàn thôn Sơn Hải, xã Phước Dinh.

Nghiên cứu thành công khung lịch thời vụ đã giúp người dân chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất phù hợp với từng thời điểm, từ đó tạo ra khối lượng sản phẩm rong sụn lớn, chất lượng cao, cung cấp cho thị trường. Hiện nay, có tới 40% sản phẩm rong tươi chế biến thành rong trắng dành cho thực phẩm được bán rộng khắp trong cả nước, đưa nghề rong sụn phát triển lên tầm cao mới, sản xuất theo chuỗi, tạo ra giá trị gia tăng. Kết quả đạt được là đáng ghi nhận, tuy nhiên theo TS. Trần Mai Đức, Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Nha Trang, việc nghiên cứu phục vụ sản xuất rong sụn thời gian qua cũng chỉ mới dừng lại ở mức độ ban đầu. Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào chi tiết cụ thể về số loại rong biển kinh tế ở Ninh Thuận, sản lượng mỗi loài có thể khai thác hiệu quả nhất và đảm bảo bào tử phóng thích, phát triển cây con cho mùa vụ kế tiếp. Những nghiên cứu về hiện trạng nguồn lợi rong biển trước đây không tiến hành tất cả các thủy vực ven biển, các số liệu không còn phù hợp với hiện tại trước sự tác động của ô nhiễm môi trường, sự thay đổi trạng thái địa chất ven bờ. Trong khi đó, có thực tế khó khăn hiện nay là nguồn lợi rong biển bị khai thác quá mức, làm sản lượng giảm sút nghiêm trọng, chưa có giải pháp khắc phục.

Qua phân tích về tính cấp thiết trên, TS. Trần Mai Đức đề xuất hướng nghiên cứu, phát triển ngành rong biển ở Ninh Thuận thời gian tới cần phải đi sâu vào đánh giá hiện trạng nguồn lợi, đặc điểm sinh học, mùa vụ sinh sản, các loài kinh tế, cũng như phương pháp khai thác với mục tiêu đề xuất giải pháp quản lý, bảo vệ, góp phần vào chương trình phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản. Đối với rong nho có giá trị kinh tế cao mới đưa vào trồng chủ yếu ở quanh khu vực Đầm Nại, hướng nghiên cứu nên tập trung vào hoàn thiện, chuẩn hóa quy trình trồng, chế biến đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Đặc biệt là sử dụng quy trình kỹ thuật rong nho tách nước với giải pháp công nghệ tiên tiến có thể bảo quản 6 tháng trong môi trường tự nhiên, 12 tháng trong môi trường lạnh. Xây dựng tiêu chuẩn và thương hiệu cho sản phẩm rong nho tươi Ninh Thuận để tiêu thụ trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Riêng đối tượng rong sụn, cần có những nghiên cứu chuỗi công nghệ mang tính hệ thống để giải quyết vấn đề chủ động nguồn giống tốt.

Báo Ninh Thuận
Đăng ngày 25/09/2018
Anh Tùng
Khoa học

Ảnh hưởng của nhiệt độ lên tỉ lệ giới tính ấu trùng tôm sú

Ở tôm sú, con cái lớn nhanh và có kích thước lớn hơn con đực. Tác động của nhiệt độ có thể làm tăng đáng kể sự biểu hiện của các gen xác định giới tính, giúp cải thiện tỷ lệ giới tính như mong muốn trong đàn.

tôm sú
• 16:28 23/09/2021

Trung Quốc chuyển sang nuôi tôm sú vì giá cao

Người nuôi tôm ở Trung Quốc đang chuyển sang nuôi tôm sú nhiều hơn do giá tốt hơn, theo Chủ tịch Hiệp hội Thủy sản lớn nhất của Trung Quốc.

tôm sú
• 18:44 17/08/2021

Nuôi tôm thâm canh bổ sung thức ăn tươi sống

Thử nghiệm nuôi tôm sú bằng tảo lục sợi (Chaetomorpha sp.) và ốc (Stenothyra sp.) cho thấy cải thiện tăng trưởng, nâng cao năng suất và tăng cường hấp thu, chuyển hóa thức ăn nhân tạo góp phần giảm chi phí sản xuất cho người nuôi.

ốc cho tôm ăn
• 17:12 28/07/2021

Hiệu quả từ nuôi tôm kết hợp thả cá rô phi xử lý nguồn nước

Hiện nay, nuôi tôm kết hợp cá rô phi xử lý nước ở ấp Vĩnh Điền (xã Long Điền Đông, huyện Đông Hải) được xem là mô hình cho hiệu quả kinh tế cao.

Cá rô phi
• 10:23 19/07/2021

Mô hình CTU-RAS quy mô nông hộ - Giải pháp cho ngành tôm

Nuôi siêu thâm canh tôm thẻ chân trắng đã từng bước khẳng định vị thế trong ngành hàng tôm của Việt Nam, không ngừng gia tăng về diện tích nuôi và sản lượng nuôi.

Tôm
• 08:00 04/11/2025

Tên khoa học của tôm thẻ chân trắng là Penaeus vannamei hay Litopenaeus vannamei?

Nhiều người không khỏi bối rối khi bắt gặp hai tên khoa học của tôm thẻ chân trắng là: Penaeus vannamei và Litopenaeus vannamei. Vậy, đâu mới là danh pháp chính xác theo hệ thống phân loại khoa học hiện đại, và tại sao sự nhầm lẫn này lại tồn tại?

tên khoa học của tôm thẻ chân trắng
• 15:21 17/07/2025

Vắc-xin uống từ vi tảo

Trong bối cảnh ngành nuôi trồng thủy sản toàn cầu đang chịu áp lực bởi các đợt bùng phát dịch bệnh nghiêm trọng, vắc-xin được xem là giải pháp hiệu quả để nâng cao miễn dịch và giảm sự phụ thuộc vào hóa chất. Một xu hướng nổi bật gần đây là ứng dụng vi tảo làm nền tảng sản xuất vắc-xin, mở ra triển vọng phát triển các loại vắc-xin uống bền vững, hiệu quả và ít tốn kém.

Vi tảo
• 10:50 13/06/2025

Nguyên liệu lên men: Một xu hướng mới trong dinh dưỡng thủy sản

Thức ăn thương mại đóng vai trò then chốt trong sản xuất nuôi trồng thủy sản, do chiếm từ 50% đến 70% tổng chi phí sản xuất.

Thức ăn tôm
• 10:50 03/06/2025

Cơ hội vàng cho cá rô phi tại Việt Nam

Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt lớn đối với ngành nuôi cá rô phi tại Việt Nam. Sự biến động này không chỉ phản ánh sức hút ngày càng tăng của sản phẩm trên thị trường toàn cầu mà còn mở ra cơ hội sinh kế mới đầy triển vọng cho nông dân tại Đồng Bằng Sông Cửu Long.

Cá rô phi
• 07:29 16/12/2025

Tôm Việt Nam vững vàng tại EU nhưng gặp rủi ro lớn từ thuế quan Mỹ

Ngành tôm Việt Nam đang trải qua giai đoạn chuyển mình phức tạp nhất thập kỷ. Năm 2025 ghi nhận một bức tranh thị trường bị "xé làm đôi": Chúng ta thăng hạng ấn tượng tại thị trường EU nhưng đồng thời phải đối mặt với nguy cơ sụt giảm kỷ lục tại thị trường trọng điểm là Mỹ.

Tôm thẻ
• 07:29 16/12/2025

Vai trò ngày càng lớn của enzyme trong thức ăn thủy sản

Thị trường enzyme trong thức ăn thủy sản toàn cầu được dự báo sẽ đạt 839 triệu USD vào năm 2035, tăng mạnh từ 506 triệu USD năm 2025. Sự tăng trưởng này được thúc đẩy bởi xu hướng chuyển dịch sang nguyên liệu thực vật và các quy định môi trường ngày càng siết chặt.

Thức ăn thủy sản
• 07:29 16/12/2025

Tại sao phải 'bỏ đói' tôm trước khi thu hoạch?

Trong kỹ thuật thu hoạch và chế biến thủy sản, có một bước tưởng như nhỏ nhưng lại quyết định trực tiếp đến chất lượng và giá bán của tôm thương phẩm.

Thu hoạch tôm
• 07:29 16/12/2025

Tại sao mực nang lại là bậc thầy thôi miên dưới đáy biển?

Dưới đáy biển, có một sinh vật đã nâng nghệ thuật ngụy trang lên một tầm cao mới: mực nang. Chúng không chỉ đổi màu để ẩn mình, mà còn có thể tạo ra những "ảo ảnh" chuyển động để thôi miên và săn mồi, một kỹ năng đáng kinh ngạc đến từ một trong những bộ não thông minh nhất đại dương.

Mực nang
• 07:29 16/12/2025
Some text some message..